Tóm tắt: Bài nghiên cứu đánh giá kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn và hiệu quả từ năm 1949 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Qua chín giai đoạn cải cách chính phủ, Trung Quốc đã đạt được những bước tiến quan trọng trên nhiều lĩnh vực, nhất là về mặt thể chế khi đã tinh giản bộ máy hành chính, giảm thiểu sự chồng chéo chức năng của các cơ quan chính phủ, nâng cao hiệu quả quản lý, và tối ưu hóa nguồn lực. Trên cơ sở đó, nghiên cứu rút ra những hàm ý cho Việt Nam trong công cuộc tinh gọn hệ thống chính trị một cách hiệu quả nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Tinh gọn bộ máy, cải cách chính phủ, Trung Quốc, Việt Nam, tinh giản bộ máy.
- Sự thay đổi về nhận thức
Những năm gần đây, nhiều nhà kinh tế học đã thừa nhận rộng rãi rằng “thể chế là quan trọng”: các nước nghèo không phải vì họ thiếu tài nguyên, mà vì họ thiếu các thể chế chính trị hiệu quả. Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi các quốc gia phải đối mặt với áp lực cải cách để theo kịp xu hướng phát triển kinh tế và xã hội. Trung Quốc là một ví dụ điển hình, nơi mà sự thay đổi về thể chế đã đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và duy trì ổn định xã hội. Thông qua việc cải cách hệ thống chính trị và hành chính, Trung Quốc đã vượt qua nhiều hạn chế ban đầu, đặc biệt là sự cồng kềnh của bộ máy nhà nước và sự chồng chéo chức năng giữa các cơ quan chính phủ. Bằng cách thiết lập các thể chế chính trị tinh gọn, minh bạch và tập trung vào hiệu quả quản trị, Trung Quốc không chỉ cải thiện năng lực quản lý nhà nước mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Điều này minh chứng rõ ràng rằng, thể chế hiệu quả không chỉ là yếu tố cần thiết, mà còn là điều kiện tiên quyết để các quốc gia phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Kể từ khi khởi xướng chính sách cải cách và mở cửa vào năm 1978, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trải qua một quá trình thay đổi nhận thức sâu sắc và mang tính cách mạng về chủ trương thực hiện cải cách chính phủ. Giai đoạn đầu của cải cách, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận thấy rằng mô hình “nhà nước vạn năng”, nơi chính phủ can thiệp sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và kinh tế đã không còn phù hợp trong bối cảnh Trung Quốc cần thúc đẩy phát triển kinh tế và hiện đại hóa đất nước. Điều này dẫn đến nhu cầu cấp bách phải chuyển đổi sang một mô hình chính phủ phục vụ, tập trung vào vai trò kiến tạo, định hướng và cung cấp dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp. Nhận thức mới này thúc đẩy Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành các cải cách nhằm tinh giản bộ máy hành chính, khắc phục tình trạng cồng kềnh, phân bổ nguồn lực hợp lý và giảm thiểu sự chồng chéo chức năng giữa các cơ quan. Trong quá trình này, chính phủ đã chuyển đổi từ việc can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế vi mô sang quản lý theo hướng gián tiếp thông qua các chính sách và quy định vĩ mô. Đây không chỉ là một thay đổi về cơ cấu mà còn là bước tiến lớn trong tư duy quản lý, thể hiện qua việc tập trung cải cách các lĩnh vực trọng yếu như hành chính công, quản trị doanh nghiệp nhà nước và hiện đại hóa cơ chế quản lý. Quan điểm về vai trò của chính phủ cũng được điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn đầu, các cuộc cải cách chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh tế, với trọng tâm là khôi phục và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sau nhiều năm trì trệ do hậu quả của Đại nhảy vọt (1958-1962) và Cách mạng Văn hóa (1966-1976). Các chính sách cải cách được thực hiện nhằm mở rộng sản xuất, khuyến khích đổi mới, thu hút đầu tư nước ngoài, và từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khi Trung Quốc đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận thấy rằng để đạt được sự phát triển bền vững và toàn diện, cần phải tiến hành cải cách cả trong lĩnh vực chính trị và hành chính. Nhận thức này dẫn đến việc thực hiện chín cuộc cải cách cơ cấu chính phủ, nhằm tinh giản bộ máy, giảm thiểu sự chồng chéo và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII (2012) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình cho rằng việc đi sâu cải cách thể chế đảng và nhà nước là một nhiệm vụ quan trọng nhằm thúc đẩy hiện đại hóa hệ thống quản lý và năng lực quản trị quốc gia. Đây không chỉ đơn thuần là yêu cầu cấp thiết để đối phó với những thách thức nội tại và quốc tế, mà còn là giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa toàn diện hệ thống quản lý của Trung Quốc. Theo đó, cải cách không chỉ dừng lại ở việc tinh giản bộ máy hành chính, giảm thiểu sự chồng chéo chức năng, mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả quản trị, tối ưu hóa nguồn lực và tăng cường năng lực hoạch định chính sách. Bên cạnh đó, cải cách còn gắn liền với mục tiêu xây dựng một hệ thống quản lý phù hợp với bối cảnh và yêu cầu mới của thời đại, đặc biệt là trong việc hiện thực hóa tầm nhìn phát triển dài hạn của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Đây là tiền đề quan trọng để Trung Quốc tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế, duy trì sự ổn định chính trị – xã hội và tiếp tục khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế.
- Tiến trình cải cách bộ máy quản lý nhà nước tại Trung Quốc
Tinh gọn bộ máy nhà nước không phải là vấn đề riêng của bất kỳ quốc gia nào, mà nó đang dần trở thành xu hướng trong quản trị công của nhiều quốc gia. Tại Trung Quốc, công cuộc cải cách, tinh gọn hệ thống chính trị được sử dụng với tên gọi là “cải cách thể chế chính phủ” (改革政府结构).
Công cuộc cải cách thể chế chính phủ trong hơn 70 năm qua kể từ khi thành lập nước Trung Quốc mới (1949), đến nay, đã trải qua 9 cuộc cải cách thể chế chính phủ trong hơn 40 năm thực hiện cải các và mở cửa. Sau những lần cải cách đó, Trung Quốc đã tinh giản được các thể chế hoạt động thiếu hiệu quả của chính phủ, giảm chi phí hành chính, nâng cao hiệu quả hành chính chính của chính phủ và ngày càng phù hợp với yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc cũng như bối cảnh của thời đại.
Cải cách chính phủ lần thứ nhất (1982-1984), trong đợt cải cách đầu tiên Trung Quốc tập trung vào công cuộc tinh giản bộ máy nhà nước. Trước thời điểm thực hiện cải cách, Trung Quốc chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bộ máy chính phủ cồng kềnh, các cơ quan chính phủ hoạt động chồng chéo chức năng, kinh tế kém phát triển, các nguồn lực phát triển đất nước hạn chế, sự hoạt động thiếu hiệu quả của chính phủ cùng nạn tham nhũng tràn lan. Trước tình thế cấp thiết đó, Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã chủ trương cải thiện hiệu quả hoạt động của chính phủ thông qua chiến lược “Tứ hiện đại hóa”, trọng tâm là thực hiện cải cách và phát triển Trung Quốc trong giai đoạn mới dựa trên bốn lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, khoa học-công nghệ và quốc phòng. Thông qua cải cách, số lượng các bộ, ủy ban, cơ quan trực thuộc Quốc vụ viện giảm từ 100 xuống 61 cơ quan, tổng số biên chế giảm khoảng 1/3, cơ cấu lãnh đạo của Quốc vụ viện cũng được cải tổ, số lượng phó thủ tưởng giảm từ 13 xuống còn 2. Cuộc cải cách này đã tạo ra bước đột phá lớn trong việc tinh gọn tổ chức, cán bộ, bãi bỏ nhiệm kỳ trọn đời của các chức vụ lãnh đạo, đẩy nhanh quá trình trẻ hóa đội ngũ cán bộ, giải quyết vấn đề thay thế đội ngũ lãnh đạo cũ và mới.
Cải cách chính phủ lần thứ hai (1988), trong cuộc cải cách này Trung Quốc tập trung vào chuyển đổi chức năng chính phủ, đây cũng trở thành một phần quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa, cải tổ hệ thống quản lý nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thông qua cuộc cải cách này, sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế ngày càng giảm bớt, chính phủ chuyển đổi quản lý nền kinh tế vĩ mô và vi mô từ trực tiếp sang gián tiếp, bộ máy hành chính dần được hoàn thiện và hiệu quả hơn, đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, số lượng các bộ và ủy ban trực thuộc Quốc vụ viện giảm từ 45 xuống 41, số cơ quan trực thuộc giảm từ 22 xuống 19, cơ quan không thường trực giảm từ 75 xuống 44, biên chế của 66 bộ, ủy ban và cục giảm 9.700 người. Sau khi thực hiện cải cách chính phủ lần thứ hai, bộ máy chính phủ Trung Quốc trở nên gọn nhẹ hơn, đồng thời giảm thiểu tình trạng chồng chéo chức năng giữa các cơ quan, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý hành chính, song bên cạnh đó cuộc cải cách này cũng trở thành động lực cho các cuộc cải cách tiếp theo.
Cải cách chính phủ lần thứ ba (1993-1995) diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa và chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Với mục tiêu đổi mới hệ thống kinh tế, xóa bỏ những rào cản đối với hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, giảm sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế vi mô hơn so với cải cách chính phủ lần thứ hai, các cơ quan chính phủ tiếp tục được tinh gọn mạnh mẽ. Sau cuộc cải cách thể chế này, số cơ quan, văn phòng trực thuộc Quốc vụ viện đã giảm 27 đơn vị, từ 86 xuống 59 đơn vị; số cơ quan không thường trực giảm 56 đơn vị, còn lại 29 đơn vị; số cơ quan cấp vụ, cục trong các bộ và ủy ban giảm 136 đơn vị, còn lại 788 đơn vị; biên chế hành chính của các cơ quan giảm 20%, còn lại 29.200 người.
Cải cách chính phủ lần thứ tư (1998-2002) đặt nền móng cho việc xây dựng chính phủ theo hướng dịch vụ. Cuộc cải cách này là một nỗ lực mang tính bước ngoặt nhằm hiện đại hóa bộ máy hành chính công, cải thiện hiệu quả quản lý và thích nghi với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Với sự quyết tâm của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc cải tổ sâu rộng bộ máy chính phủ cùng năng lực lãnh đạo của Thủ tướng Trung Quốc thời điểm đó là Chu Dung Cơ, đã cơ bản thiết lập một hệ thống hành chính có hiệu quả cao hơn so với các giai đoạn trước, các cơ quan của chính phủ đã giảm bớt được sự chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ, các dịch vụ công dần được chuẩn hóa, hệ thống công vụ quốc gia được cải thiện, đội ngũ hành chính chuyên nghiệp chất lượng cao từng bước được xây dựng. Trong công cuộc cải cách này, nguyên tắc đầu tiên được Đảng Cộng sản trung Quốc đưa ra là phải phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, song song với đó là tách biệt chính phủ và doanh nghiệp, tiếp tục giảm sự can thiệp của chính phủ đối với doanh nghiệp. Cuộc cải cách tiếp tục đẩy mạnh điểu chỉnh cơ cấu tổ chức của chính phủ, tinh gọn bộ máy quản lý, giải thể 15 bộ, ủy ban; thành lập 4 bộ, ủy ban mới; 3 bộ, ủy ban được đổi tên. Sau cải cách, ngoại trừ Văn phòng Tổng hợp Quốc vụ viện, số lượng các cơ quan trực thuộc Quốc vụ viện đã giảm từ 40 xuống còn 29. Cải cách đã tạo tiền đề cho sự hội nhập sâu rộng của Trung Quốc và nền kinh tế toàn cầu sau khi gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001.
Cải cách chính phủ lần thứ năm (2003), tăng cường thích ứng với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Cuộc cải cách tiếp tục chuyển đổi chức năng của chính phủ, cải tiến phương pháp quán lý, thúc đẩy chính phủ điện tử, nâng cao hiệu quả hành chính và giảm chi phí hành chính. Đây là giai đoạn cải cách mang tính kế thừa và phát triển của bốn lần cải cách trước đó, được lãnh đạo thực hiện bởi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo trong bối cảnh Trung Quốc phải đối mặt với yêu cầu phải nâng cao năng lực quản trị để cạnh tranh trên thị trường quốc tế và nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng kéo theo cả những thách thức như bất bình đẳng thu nhập, phân hóa sự phát triển giữa các vùng miền kể từ sau khi gia nhập WTO. Cải cách chính phủ lần thứ năm đã tạo điều kiện cho chính phủ và hệ thống hành chính thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, đem lại cho Trung Quốc cơ hội thu hút các nguồn đầu tư lớn nhờ việc cải cách những thể chế và chính sách.
Cải cách chính phủ lần thứ sáu (2008), cuộc cải cách tập trung vào nghiên cứu triển khai hệ thống các cơ quan lớn với chức năng thống nhất một cách hữu cơ. Để thích ứng với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, Đại hội toàn quốc lần thứ XVII của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề xuất đẩy nhanh cải cách hệ thống quản lý hành chính và xây dựng chính phủ theo hướng phục vụ. Trong đó, nhiệm vụ chính của cải cách là tập trung vào việc chuyển đổi các chức năng của chính phủ, phân bổ trách nhiệm, quan hệ giữa các cơ quan của chính phủ, hướng tới thống nhất về mặt tổ chức và phân bổ hợp lý chức năng của các cơ quan chính phủ, đặc biệt là trong lần cải cách này đã xác định kế hoạch, mục tiêu chung cho cải cách thể chế ở Trung Quốc là “thiết lập một hệ thống hành chính xã hội chủ nghĩa tương đối hoàn chỉnh, đặc sắc Trung Quốc vào năm 2020”. Về cơ bản, cuộc cải cách là một nỗ lực lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm tiếp tục hiện đại hóa bộ máy hành chính và tăng cường quản trị công trong bối cảnh nền kinh tế – xã hội Trung Quốc đã trải qua những thay đổi lớn kể từ sau khi thực hiện cải cách và mở cửa.
Cải cách chính phủ lần thứ bảy (2013), trước quyết tâm của Tập Cận Bình trong công cuộc chống tham nhũng, cải cách thể chế và củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, năm 2013, phiên họp toàn thể lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII đã xem xét và thông qua kế hoạch cải cách thể chế và chuyển đổi chức năng của Quốc vụ viện, cải cách hệ thống các cơ quan lớn với chức năng thống nhất, giải quyết những tồn đọng của chính phủ như chồng chéo cơ quan, trách nhiệm; cắt giảm và chuẩn hóa các thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả hành chính. Số cơ quan của chính phủ sau khi thực hiện tinh giản giảm từ 27 bộ ngành xuống còn 25 bằng cách hợp nhất hoặc giải thể một số cơ quan, đồng thời, tiếp tục tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh toàn cầu, khu vực kinh tế tư nhân cũng được mở rộng với môi trường cạnh tranh công bằng hơn. Cuộc cải cách chính phủ lần thứ bảy đánh dấu bước ngoặt trong công cuộc hiện đại hóa và nâng cao năng lực quản lý nhà nước của Trung Quốc, những thay đổi mang tính chiến lược, đặc biệt là phát triển tư duy tinh gọn bộ máy nhà nước, cải cách kinh tế và chống tham nhũng đã tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định và tăng trưởng bền vững cho Trung Quốc trong các giai đoạn tiếp theo.
Cải cách chính phủ lần thứ tám (2018), khi chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc bước vào thời kỳ mới, cơ cấu tổ chức, chức năng của các cơ quan Đảng và Nhà nước chưa thực sự đáp ứng được với yêu cầu phối hợp, phát huy tổng thể năng lực quản trị, nhất là trong triển khai bố cục chiến lược “Bốn toàn diện” (xây dựng xã hội khá giả toàn diện, đi sâu cải cách toàn diện, quản lý đất nước theo luật pháp toàn diện và quản lý Đảng nghiêm minh toàn diện) và bố cục tổng thể “Năm trong một” (xây dựng kinh tế, xây dựng chính trị, xây dựng văn hóa, xây dựng xã hội và xây dựng văn minh sinh thái trong một chỉnh thể). Tháng 2 năm 2018, Phiên họp toàn thể lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX đã tập trung vào cải cách thể chế và xem xét, thông qua “Quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về đi sâu cải cách thể chế Đảng và Nhà nước” và “Kế hoạch đi sâu cải cách thể chế Đảng và Nhà nước”. Khác với các cuộc cải cách chính phủ trước đó, cải cách chính phủ lần thứ tám hướng đến hiện đại hóa toàn diện thể chế Đảng và Nhà nước thông qua một cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ và gắn liền với mục tiêu hiện đại hóa hệ thống quản trị công quốc gia.
Cải cách chính phủ lần thứ chín (2023), Trung Quốc tiếp tục nỗ lực cải cách hệ thống quản trị công trong bối cảnh quốc tế và nội tại tồn tại nhiều thách thức, đặc biệt là trước những bất lợi từ chiến tranh thương mại với Hoa Kỳ, cùng với thực tế rằng sự chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu đang có xu hướng rời xa Trung Quốc. Trung Quốc đã thực hiện cải cách chính phủ lần thứ chín, mặc dù tổng số bộ, ngành vẫn giữ ở mức 26, nhưng đã có những thay đổi quan trọng trong cơ cấu và chức năng của các cơ quan chính phủ, biên chế của tất cả các cơ quan trung ương và nhà nước đã bị cắt giảm với tỷ lệ 5%, điều này đã giúp tiết kiệm hằng tỷ nhân dân tệ mỗi năm trong việc chi trả lương cho hệ thống các cơ quan của chính phủ, đồng thời tái đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên như y tế, giáo dục và khoa học công nghệ. Cuộc cải cách này là kết quả của sự kế thừa, bổ sung những lần cải cách trước đó, giúp Trung Quốc xây dựng được bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu quả, đáp ứng tốt những thay đổi liên tục của thời đại dựa trên Tư tưởng Tập cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới, là động lực to lớn để Trung Quốc thực hiện thành công “Giấc mộng Trung Hoa” và vươn mình trở thành cường quốc thế giới.
- Hàm ý cho Việt Nam
Trải qua hơn 40 năm cải cách và mở cửa cùng 9 cuộc cải cách chính phủ, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận, đặc biệt là trong công tác tinh gọn bộ máy hành chính, cải tổ các cơ quan chính phủ, xây dựng nền hành chính công hiệu quả và minh bạch. Các cuộc cải cách của Trung Quốc đã để lại những bài học kinh nghiệm cả về lý luận lẫn thực tiễn cho nhiều quốc gia, đặc biệt là quốc gia có nhiều điểm tương đồng về thể chế và hệ thống chính trị như Việt Nam.
Thứ nhất, công tác tinh gọn bộ máy không phải là công tác nhất thời, mang tính ngắn hạn mà là công tác mang tính định kỳ, có tính nguyên tắc và chiến lược. Thực tiễn các cuộc cải cách chính phủ ở Trung Quốc đã cho thấy, công cuộc cải cách không đơn thuần là giảm thiểu sự cồng kềnh trong tổ chức và chồng chéo về chức năng của các cơ quan chính phủ, mà còn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn rặn: “Cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy từ trên xuống dưới làm cho nó gọn gàng, hợp lý…”. Xã hội Việt Nam đang thay đổi từng ngày với tốc độ nhanh, do đó, việc hoàn thiện, sắp xếp bộ máy quản lý nhà nước không chỉ thực hiện một lần mà còn phải thay đổi để phù hợp với thời đại, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Thứ hai, cần lấy nhân dân làm trung tâm và động lực cốt lõi của công cuộc tinh gọn bộ máy nhà nước. Kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn kiên định với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Đây không chỉ là kim chỉ nam trong các hoạt động lãnh đạo của Đảng, mà còn là nguyên tắc bất di bất dịch trong mọi quyết sách, đặc biệt là trong việc cải cách tổ chức và tinh gọn bộ máy. Do đó, quá trình này cần phải lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu trọng tâm, xuyên suốt và quan trọng nhất, nhằm đảm bảo sự phục vụ hiệu quả, minh bạch và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
Thứ ba, đảm bảo tính kế thừa trong công tác tinh gọn. Nhu cầu tinh gọn hệ thống chính trị hiện nay là một yêu cầu cấp bách, tạo đà cho Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nhìn nhận dưới góc độ khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tinh gọn bộ máy là một yêu cầu tất yếu, khách quan, quá trình này diễn ra trên cơ sở thay thế những hạn chế của hệ thống chính trị bằng cách xóa bỏ, cải tiến hoặc sửa đổi những thành phần không còn phù hợp với yêu cầu của thời đại. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra một cách từ từ, cái phù hợp hơn ra đời dựa trên cơ sở kế thừa những thành tựu, tinh hoa của hệ thống cũ, sửa đổi những thành phần còn hạn chế, yếu kém, hệ thống sau ra đời phát triển hơn hệ thống cũ. Cụ thể là, kế thừa những nguyên tắc quản lý tiên tiến như: nguyên tắc tập trung dân chủ, minh bạch, trách nhiệm trong quản lý nhà nước, các chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài; loại bỏ những rào cản, nguyên tắc lỗi thời như: chồng chéo trong chức năng, thiếu đồng bộ trong cơ chế, chính sách.
Thứ tư, thúc đẩy Chính phủ điện tử, chuẩn hóa dịch vụ công, hướng tới Chính phủ số. Chính phủ điện tử là một bước đột phá trong cải cách hành chính tại Việt Nam, chủ trương xây dựng chính phủ điện tử đã được đưa ra trong Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2014 của Bộ chính trị và đã được chính phủ cụ thể hóa trong Quyết định số 942/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030. Tính đến giữa tháng 01 năm 2025, số hồ sơ trực tuyến được thực hiện trên Cổng Dịch vụ Công Quốc gia đã đạt hơn 60 triệu hồ sơ, số hồ sơ được giải quyết trực tuyến đã làm tối ưu hóa quy trình quản lý, giảm thiểu các thủ tục phức tạp, tăng mức độ minh bạch và nâng cao chất lượng xử lý hồ sơ, đồng thời cũng tạo thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp khi có thể thực hiện các thủ tục hành chính tại bất kỳ đâu có thiết bị kết nối Internet.
Thứ năm, tái phân bổ nguồn lực từ công tác tinh giản bộ máy vào các lĩnh vực quan trọng như y tế, giáo dục, khoa học và công nghệ. Việc tái phân bổ nguồn lực thu được từ công tác tinh giản bộ máy cần được thực hiện một cách hợp lý và hiệu quả, ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực có tầm quan trọng chiến lược như y tế, giáo dục, khoa học và công nghệ. Đây là những lĩnh vực không chỉ đóng vai trò thiết yếu trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững và lâu dài của đất nước. Đặc biệt, đầu tư vào giáo dục và khoa học công nghệ sẽ tạo ra lực đẩy mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đồng thời, chú trọng đầu tư vào y tế sẽ giúp đảm bảo sức khỏe cho nhân dân, củng cố nguồn nhân lực và tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện về cả kinh tế, văn hóa, và xã hội.
Nhìn chung, những bài học kinh nghiệm từ công cuộc cải cách chính phủ của Trung Quốc mang đến nhiều giá trị lý luận và thực tiễn quý báu cho Việt Nam trong công cuộc tinh gọn và hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước. Việc xây dựng một hệ thống chính trị hiệu quả, minh bạch và hướng đến phục vụ nhân dân không chỉ là nhiệm vụ cấp bách mà còn là chiến lược lâu dài, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước. Điều này đòi hỏi sự quyết tâm, kiên định và nhất quán trong tư duy lãnh đạo, đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành để triển khai các chính sách một cách toàn diện, đồng bộ và hiệu quả, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Cổng Dịch vụ công Quốc gia, https://dichvucong.gov.vn/p/home/dvc-dich-vu-cong-truc-tuyen.html, truy cập ngày 15/01/2025.
- Francis Fukuyama (2023), Nguồn gốc trật tự chính trị: Từ thời tiền sử đến cách mạng Pháp, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr.35.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8, tr. 155.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr. 31.
- PV (2024), Cuộc cải cách bộ máy “xoay chuyển tình hình nội bộ Trung Quốc”, https://vov.vn/chinh-tri/cuoc-cai-cach-bo-may-xoay-chuyen-tinh-hinh-noi-bo-trung-quoc-post1139815.vov?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 17/01/2025.
- 中共中央 国务院 (2008), 《关于深化行政管理体制改革的意见》的通知, https://www.gov.cn/gongbao/content/2008/content_946042.htm, truy cập ngày 13/01/2025.
- 中共中央关 (2018), 中共中央关于深化党和国家机构改革的决定, https://www.gov.cn/zhengce/2018-03/04/content_5270704.htm, truy cập ngày 13/01/2025.
- 中共中央关(2023), 中共中央 国务院印发《党和国家机构改革方案》, https://www.gov.cn/gongbao/content/2023/content_5748649.htm#:~:text=%E4%B8%AD%E5%A4%AE%E5%92%8C%E5%9B%BD%E5%AE%B6%E6%9C%BA%E5%85%B3%E5%90%84,%E5%85%9A%E5%A7%94%E7%BB%93%E5%90%88%E5%AE%9E%E9%99%85%E7%A0%94%E7%A9%B6%E7%A1%AE%E5%AE%9A%E3%80%82, truy cập ngày 13/01/2025.
- 中华人民共和国中央人民政府 (2023), 中共中央 国务院印发《党和国家机构改革方案》, https://www.gov.cn/zhengce/2023-03/16/content_5747072.htm, truy cập ngày 2/1/2025.
- 中央政府门户网站 (2009), 1993年国务院机构改革, https://www.gov.cn/test/2009-01/16/content_1206993.htm, truy cập ngày 13/01/2025.
- 中央政府门户网站 (2013), 三中全会《决定》解读:如何优化政府组织结构, https://www.gov.cn/jrzg/2013-12/19/content_2550847.htm, truy cập ngày 09/01/2025.
- 刘琼 (2013), 新一轮国务院机构改革将启动 国务院组成部门减至25个, http://www.xinhuanet.com/2013lh/2013-03/10/c_114965262.htm, truy cập ngày 13/01/2025.
- 朱书缘 (2013), 盘点:改革开放以来六次国务院机构改革 新一轮国务院机构改革启动 过去6次改革削减部门73个, http://theory.people.com.cn/n/2013/0226/c148980-20606301-2.html, truy cập ngày 13/01/2025.
- 汪静赫 (2013). 那些消失的部委. 政府法制, (13), 27-27.
- 石平洋 (2020), “四个现代化”是如何提出与发展的, http://dangshi.people.com.cn/n1/2020/0529/c85037-31728309.html, truy cập ngày 08/01/2025.







◉ 0 Thảo luận Khoa học