Hình ảnh một người buồn tìm đến rượu xuất hiện rất nhiều trong văn hóa đại chúng. Sau một cuộc chia tay, mất việc hoặc một khoảng thời gian cô đơn, nhân vật rót một ly rượu với mục đích “quên đi”. Điều này quen thuộc đến mức chúng ta dễ mặc định một chuỗi nhân quả đơn giản: buồn dẫn đến uống rượu, còn cô đơn khiến con người uống nhiều hơn.
Khoa học lại cho thấy câu chuyện phức tạp hơn.
Cảm xúc tiêu cực, stress và cô đơn đều có thể liên quan đến việc sử dụng rượu, nhưng không phải người buồn nào cũng uống, không phải người cô đơn nào cũng tăng lượng rượu và thậm chí trong một số nghiên cứu, cô đơn không dự báo việc uống thường xuyên hơn. Điều có vẻ quan trọng hơn là lý do một người uống, cách họ đối phó với cảm xúc, môi trường xã hội, giới tính, độ tuổi, lịch sử sử dụng chất và mức đau khổ tâm lý đi kèm.
Một trong những dữ liệu dọc đáng chú ý nhất gần đây được Isaac Rhew và cộng sự công bố trên Journal of Adolescent Health năm 2025. Nhóm nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 4.407 người trẻ trong một dự án theo dõi dài hạn. Mức cô đơn được đo ở tuổi 21 và 23, trong khi các kết quả liên quan đến rượu và cần sa được đánh giá ở tuổi 23 và 26. Phân tích còn điều chỉnh nhiều yếu tố gây nhiễu như triệu chứng trầm cảm, mức sử dụng chất trước đó và các đặc điểm tâm lý xã hội khác.
Kết quả rất đáng chú ý bởi nó không phù hợp với câu chuyện đơn giản “cô đơn thì uống nhiều hơn”. Điểm cô đơn không dự báo có ý nghĩa thống kê tần suất uống rượu ở lần đánh giá tiếp theo. Tỷ số chênh đối với tần suất uống là 1,01 với khoảng tin cậy 95 phần trăm từ 0,96 đến 1,06, tức gần như không cho thấy một mối liên hệ rõ. Tuy nhiên, cô đơn lại liên quan đến khả năng sử dụng rượu ở mức nguy hại cao hơn, với tỷ số hiện mắc 1,10 và khoảng tin cậy 95 phần trăm từ 1,03 đến 1,17. Nói cách khác, dữ liệu gợi ý rằng cô đơn có thể liên quan nhiều hơn tới kiểu sử dụng có vấn đề chứ không nhất thiết làm người ta uống thường xuyên hơn.
Sự khác biệt này rất quan trọng. Hai người có thể cùng uống hai lần mỗi tuần nhưng mục đích và kiểu uống hoàn toàn khác nhau. Người thứ nhất uống một lượng nhỏ khi ăn tối với bạn bè. Người thứ hai uống nhanh và nhiều với mục đích làm tê cảm xúc khó chịu. Nếu chỉ hỏi “bao nhiêu ngày trong tháng bạn uống rượu”, sự khác biệt giữa hai kiểu sử dụng có thể bị bỏ qua.
Một tổng quan hệ thống của Marta Puigcerver và cộng sự năm 2026 càng cho thấy bức tranh không đơn giản. Nhóm tác giả tổng hợp 39 nghiên cứu được công bố tới cuối năm 2025 về rượu, cô đơn, cô lập xã hội, stress và đau khổ tâm lý ở người trưởng thành không thuộc mẫu lâm sàng. Kết quả cho thấy stress và đau khổ tâm lý có mối liên hệ tích cực với uống nhiều hoặc gặp vấn đề liên quan đến rượu ổn định hơn nhiều so với cô đơn. Các nghiên cứu về cô đơn cho kết quả không đồng nhất: có nghiên cứu tìm thấy liên hệ dương, có nghiên cứu không tìm thấy liên hệ và cũng có kết quả theo chiều ngược lại. Ảnh hưởng còn phụ thuộc vào giới, tuổi, hoàn cảnh và cách từng nghiên cứu đo việc sử dụng rượu.
Các tác giả vì vậy đề xuất một mô hình nhiều yếu tố. Trong đó, cô đơn có thể hoạt động như một bối cảnh làm tăng nguy cơ đau khổ tâm lý, còn stress hoặc trạng thái khó chịu gần thời điểm uống mới là yếu tố gần hơn thúc đẩy hành vi ở một số người. Cách một cá nhân đối phó với cảm xúc, mức hỗ trợ xã hội, chuẩn mực văn hóa và thói quen trước đó quyết định họ có sử dụng rượu như một công cụ điều hòa cảm xúc hay không.
Đây là nơi khái niệm “động cơ đối phó” trở nên quan trọng. Con người uống rượu vì nhiều lý do: để giao tiếp, vì thích hương vị, để ăn mừng, do thói quen, để tăng cảm giác vui vẻ hoặc để giảm trạng thái tiêu cực. Hai người có lượng rượu giống nhau nhưng rủi ro lâu dài có thể khác nếu một người ngày càng phụ thuộc vào rượu như cách duy nhất để đối phó với stress.
Rượu có thể tạo ra tác động ngắn hạn khiến cơ chế này dễ hình thành. Ethanol tác động lên nhiều hệ thống dẫn truyền thần kinh và ở một số người có thể tạm thời làm giảm căng thẳng, giảm tự kiểm soát và thay đổi trạng thái cảm xúc. Nếu một hành vi ngay lập tức làm một trạng thái khó chịu giảm xuống, não có khả năng học rằng hành vi ấy đáng lặp lại. Trong tâm lý học hành vi, đây là một dạng tăng cường âm tính: hành vi được củng cố bởi việc một trải nghiệm khó chịu tạm thời giảm đi.
Điều nguy hiểm là thứ hữu ích trong vài giờ không nhất thiết hữu ích cho trạng thái nền. Uống rượu không giải quyết nguyên nhân của cô đơn, xung đột hay stress. Sử dụng quá mức còn có thể gây thêm vấn đề về giấc ngủ, sức khỏe, công việc và quan hệ, những yếu tố sau đó lại làm stress tăng lên. Một vòng lặp có thể hình thành trong đó trạng thái tiêu cực thúc đẩy uống, còn hậu quả của uống tạo thêm trạng thái tiêu cực.
Năm 2026, một nghiên cứu của Reesha Patel, Kelly Kim và cộng sự trên Nature Neuroscience cung cấp một cơ chế thần kinh rất đáng chú ý, nhưng kết quả phải được hiểu đúng phạm vi. Nghiên cứu được thực hiện trên chuột, không phải người. Khi chuột đực trưởng thành bị cô lập xã hội, lượng rượu chúng uống tăng dần và đạt mức cao hơn sau khoảng một tuần. Ở chuột cái, điều ngược lại xảy ra: cô lập làm lượng rượu giảm. Nhóm nghiên cứu xác định một đường truyền từ hạch hạnh nhân nền bên tới vỏ não trước trán giữa có hoạt động liên quan đến lượng rượu ở chuột đực. Khi kích hoạt đường truyền này, lượng rượu tăng; khi ức chế nó trong điều kiện cô lập, lượng rượu giảm.
Đây là một kết quả cơ chế mạnh trong mô hình động vật, đặc biệt vì nhóm tác giả sử dụng cả ghi điện sinh lý, hình ảnh canxi và can thiệp quang di truyền. Nhưng sẽ sai nếu viết rằng nghiên cứu đã tìm ra “mạch não khiến người cô đơn uống rượu”. Chuột không trải nghiệm cô đơn theo cùng cách xã hội, nhận thức và văn hóa như con người; hơn nữa, chính chuột đực và chuột cái trong cùng nghiên cứu đã có phản ứng trái ngược nhau. Điều đó là lời nhắc rất rõ rằng ngay cả ở mức sinh học, quan hệ giữa môi trường xã hội và rượu phụ thuộc mạnh vào nhiều yếu tố.
Ở người, rượu còn có một chức năng xã hội đặc biệt mà nghiên cứu trên chuột không thể mô phỏng. Rất nhiều hoạt động uống rượu diễn ra trong cộng đồng. Quán bar, bữa tiệc, liên hoan, gặp bạn và những nghi lễ xã hội biến rượu thành một phần của việc kết nối. Vì thế cô lập xã hội thậm chí có thể làm một số người uống ít hơn đơn giản vì họ mất các dịp uống cùng người khác. Điều này là một lý do kết quả giữa các nghiên cứu về cô đơn và tổng lượng rượu không nhất quán.
Sự khác biệt giữa “buồn” và “cô đơn” cũng cần được giữ rõ. Buồn là một trạng thái cảm xúc rộng, có thể xuất hiện sau thất bại, mất mát hay vô số sự kiện khác. Cô đơn là cảm nhận thiếu kết nối xã hội như mong muốn. Stress, lo âu và trầm cảm lại là những hiện tượng khác. Chúng có thể đi cùng nhau nhưng không đồng nghĩa. Gộp tất cả thành một khái niệm rồi tuyên bố chúng đều khiến con người uống nhiều là cách diễn giải không phù hợp với dữ liệu hiện tại.
Câu hỏi khoa học chính xác vì vậy không phải “tại sao người cô đơn uống nhiều rượu hơn?”, bởi tiền đề ấy không đúng với tất cả mọi người và tất cả nghiên cứu. Câu hỏi tốt hơn là: trong những điều kiện nào cô đơn và đau khổ tâm lý làm tăng nguy cơ sử dụng rượu theo cách có hại?
Bằng chứng hiện nay cho thấy stress và đau khổ tâm lý là những yếu tố ổn định hơn, còn cô đơn có thể đóng vai trò bối cảnh làm tăng tính dễ tổn thương ở một số nhóm. Quan trọng hơn cả số lần uống là việc một người có bắt đầu sử dụng rượu như một phương pháp chính để điều chỉnh cảm xúc hay không.
Rượu không xóa được nguyên nhân của nỗi buồn hay cô đơn. Nhưng vì nó có thể tạm thời thay đổi cảm giác của con người, bộ não có thể học được một liên kết nguy hiểm: khi thấy tệ, hãy uống. Chính quá trình học đó, lặp lại đủ nhiều trong một bối cảnh dễ tổn thương, có thể quan trọng hơn câu chuyện đơn giản rằng người buồn “thích uống”.
Tài liệu tham khảo:
Rhew, I. C., Cadigan, J. M., Guttmannova, K., Caouette, J. D., Kuklinski, M. R., & Oesterle, S. (2025). The longitudinal relationship of loneliness with frequency and problematic use of alcohol and cannabis among young adults. Journal of Adolescent Health, 77(5), 917–923;
Puigcerver, M., Hipólito, L., & Serrano, M. A. (2026). Unravelling the complexities of alcohol use in the context of loneliness and stress: A systematic review and proposed model. Physiology & Behavior, 314, 115383; Patel, R. R., Kim, K. N., Patarino, M., et al. (2026). Social isolation recruits amygdala–medial prefrontal cortex projections to escalate alcohol drinking in male mice. Nature Neuroscience.







◉ 0 Thảo luận Khoa học