Tóm tắt: Quản trị an ninh phi truyền thống, đặc biệt là quản trị nguồn nước, vẫn luôn là vấn đề thường trực được các quốc gia quan tâm khi nguồn nước ấy mang thêm yếu tố xuyên biên giới. Các thách thức và giới hạn trong quản lý và giải quyết chúng đặt ra những cơ chế hợp tác rộng mở như Hợp tác Mê Công – Lan Thương (LMC) hay Sáng kiến Lưu vực Sông Nile (NBI). Thông qua cách tiếp cận liên ngành và so sánh để xem xét tiến trình lịch sử từ hình thành, phát triển đến những thành tựu và thách thức trong thời gian gần đây của hai cơ chế, nghiên cứu chỉ ra khái quát những vấn đề còn tồi tại và những ảnh hưởng của các yếu tố chính trị Nhà nước trong thành bại của các hành động tập thể. Từ đó, nghiên cứu chỉ ra những giải pháp để tăng cường sự tin cậy chiến lược và củng cố mục tiêu phát triển chung giữa các quốc gia, cũng như hàm ý cho các nước đang phát triển như Việt Nam.

Từ khóa: An ninh phi truyền thống, LMC, NBI.

Abstract: Non-traditional security governance, particularly in water resource management, has consistently been a pressing concern for states, especially when such resources carry a transboundary dimension. The challenges and limitations in managing and addressing these issues have given rise to open frameworks for cooperation, such as the Lancang–Mekong Cooperation (LMC) and the Nile Basin Initiative (NBI). Adopting an interdisciplinary and comparative approach, this study examines the historical trajectories of these two mechanisms—from their inception and development to recent achievements and challenges. It then outlines the key persisting issues and the influence of state political factors on the success or failure of collective actions. On this basis, the study proposes solutions to enhance strategic trust and strengthen shared development objectives among participating countries, as well as implications for developing nations such as Vietnam.

Keywords: Non-Traditional Security, LMC, NBI.

Dẫn nhập: Sự thiếu hụt nguồn nước trong sinh hoạt, sản xuất tại nhiều quốc gia trong thời gian gần đây, đặc biệt là những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã đặt ra một thách thức lớn trong quản trị an ninh phi truyền thống tại nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là quản trị nguồn nước. Lục địa Á – Phi, với nhiều điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nguồn nước dồi dào, nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trong việc quản trị nguồn nước, nhất là tìm kiếm sự đồng thuận trong việc chia sẻ nguồn nước. Trong bối cảnh đó LMC và NBI ra đời với tư cách là những cơ chế đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối, quản trị và chia sẻ dòng nước tại khu vực, tiểu vùng, nghiên cứu hai cơ chế này góp phần rút ra những bài học, kinh nghiệm và giải pháp trong quản trị an ninh phi truyền thống trong khu vực.

  1. Sự hình thành và phát triển của cơ chế hợp tác lưu vực sông: Trường hợp LMC và NBI

1.1. Hợp tác Mê Công – Lan Thương (LMC)

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sau tranh chấp ở Biển Đông, các xung đột tài nguyên nước có thể trở thành một trong những điểm nóng lớn nhất giữa Trung Quốc và ASEAN (Zhang & Li, 2019). Xuất phát từ cùng một nguồn nước ở Tây Tạng, dòng Lancang [jiang] ở Trung Quốc và đến dòng Mê Kông ở Đông Nam Á lục địa cung cấp năng lượng thủy điện, nông nghiệp, giao thông đường thủy,… quan trọng của những nơi nó chảy qua. Những năm gần đây, kể từ những cơ chế đầu tiên như Chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS) hay Ủy ban sông Mê Kông (MRC), đã có hơn 10 cơ chế hợp tác khác nhau tại tiểu vùng sông Mê Kông để giải quyết nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề quản lý và giải quyết nguồn nước xuyên biên giới. Tuy nhiên, sự tham gia hạn chế của Trung Quốc và Myanmar ở thượng nguồn dòng sông trong cả những cơ chế chuyên biệt cho vấn đề này như MRC đã tạo ra những hạn chế nhất định cho tính hiệu quả của nó. Việc Trung Quốc từ chối tham gia MRC đã làm dấy lên mối lo ngại sâu sắc hơn trong giới truyền thông quốc tế, các nhà hoạt động và thậm chí cả các quan chức chính phủ lưu vực sông Mê Kông về các dự án thủy điện (Qin, 2010).

Năm 2016, Hợp tác Mê Công – Lan Thương (LMC) với sự tham gia đầy đủ của sáu nước ven sông là Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam đã mang lại những giải pháp hợp tác mới đầy kỳ vọng. Với tuyên bố Tam Á khi thành lập: “Vì một cộng đồng chung tương lai hòa bình và thịnh vượng giữa các nước Mê Công – Lan Thương” (The State Council of The People’s Republic of China, 2016), mục tiêu của cơ chế nhấn mạnh sự tăng cường hợp tác giữa các nước vì lợi ích chung và sự phát triển của người dân gắn liền với dòng sông. Khuôn khổ hợp tác tập trung vào 3 trụ cột hợp tác: các vấn đề chính trị-an ninh; các vấn đề kinh tế và Phát triển bền vững; cũng như các vấn đề xã hội và giao lưu nhân dân. Nó ưu tiên kết nối khu vực, nâng cao năng lực sản xuất, hợp tác kinh tế xuyên biên giới, quản lý tài nguyên nước và hợp tác nông nghiệp cũng như giảm đói nghèo. Ba trụ cột kết hợp với năm ưu tiên này được gọi là “khuôn khổ hợp tác 3+5”. LMC có mức độ thể chế hóa cao với hội nghị lãnh đạo cấp cao hai năm một lần, hội nghị bộ trưởng ngoại giao và cấp SOM tổ chức hằng năm.

Trong một cách tiếp cận khác để lý giải động lực hình thành và quá trình phát triển của cơ chế hợp tác thì vai trò ảnh hưởng và những ưu đãi tài chính lớn của Trung Quốc được nhấn mạnh là quan trọng. Nhìn nhận từ phía Trung Quốc, quốc gia này đã theo đuổi ba mục tiêu lớn ở tiểu vùng sông Mê Kông: thúc đẩy phát triển kinh tế cho khu vực phía Tây; tăng cường ảnh hưởng chiến lược của Trung Quốc; và cải thiện môi trường chính trị và an ninh (Li, 2015). Để đạt được những mục tiêu này, Trung Quốc cung cấp các biện pháp ưu đãi về kinh tế cho khu vực. Những khuyến khích kinh tế này không chỉ nâng cao nền kinh tế Trung Quốc mà còn tăng cường ảnh hưởng trong khu vực (Kurlantzick, 2006). Hoạt động quản lý nguồn nước sông Mê Kông được Trung Quốc hướng đến để tạo lập thế chiến lược cùng với sự kiểm soát cả Biển Đông để kẹp chặt các nước sông Mê Kông (Brennan, 2018).

1.2. Sáng kiến lưu vực sông Nile (NBI)

Sau 25 năm để hoàn thành một dự án hợp tác thủy văn, vào năm 1992, một cơ chế hợp tác được thành lập là Ủy ban Kỹ thuật Thúc đẩy Phát triển và Bảo vệ môi trường Lưu vực sông Nile (TECCONILE) bởi các bộ trưởng tài nguyên nước từ Ai Cập, Sudan, Rwanda, Tanzania, Uganda và Zaire (Cộng hòa Dân chủ Congo sau này). Trên cơ sở kế thừa cơ chế này, xuất phát từ chính các quốc gia lưu vực sông Nile, năm 1999 đánh dấu lần đầu tiên một cơ chế hợp tác toàn diện được thành lập bởi mười quốc gia ven sông là Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Ai Cập, Ethiopia, Kenya, Rwanda, Nam Sudan, Sudan, Tanzania và Uganda, trong khi Eritrea có vai trò quan sát viên.

Với một “Tầm nhìn chung” là “đạt được sự phát triển kinh tế xã hội bền vững thông qua việc sử dụng công bằng và hưởng lợi từ các nguồn nước chung của lưu vực sông Nile”, các quốc gia đã bắt đầu bằng xây dựng Chương trình Hành động chiến lược (SAP) thông qua Chương trình Tầm nhìn Chung toàn lưu vực (SVP), bao gồm 8 dự án và hai Chương trình Hành động Phụ trợ, một cho Đông sông Nile (EN-SAP) và một cho khu vực Hồ Xích đạo sông Nile (NEL-SAP). Cơ quan cao nhất của NBI là Hội đồng Bộ trưởng sông Nile (Nile-COM) bao gồm các bộ trưởng phụ trách các vấn đề nước của các thành viên; dưới Nile-COM là Ủy ban tư vấn kỹ thuật sông Nile (Nile-TAC) và Ban Thư ký NBI (Nile-SEC). Mục tiêu của NBI được cụ thể trong Chiến lược 10 năm (2017-2027) gồm 6 lĩnh vực ưu tiên: An ninh nước, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, Môi trường bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nước xuyên biên giới (Nile Basin Initiative, 2019).

Đáng chú ý, với những nỗ lực mong muốn tăng cường hợp tác và thể chế hóa các hoạt động, hiệp định khung hợp tác (CFA) được các quốc gia thượng nguồn sông Nile mở ký kết vào năm 2010 và dự kiến thành lập một thể chế thường trực là Ủy ban Lưu vực Sông Nile (NRBC). Tuy nhiên, từ chính hiệp định này cho thấy những bất đồng cơ hữu trong nội bộ NBI giữa các quốc gia thượng nguồn và hạ nguồn sông Nile. Sau hơn 10 năm đàm phán đến năm 2024, CFA mới chính thức có hiệu lực nhưng Ai Cập và Sudan vẫn phản đối và bác bỏ hiệp định này (Thông tấn xã Việt Nam, 2024). Những bất đồng, xung đột trong NBI đã bộc lộ từ lâu bởi những sự kiện lịch sử phức tạp giữa các nước thành viên cùng với sự thay đổi vị thế địa chính trị của các chủ thể quan trọng là Ai Cập và Sudan (tiêu thụ chính nước sông Nile ở hạ nguồn lần lượt 50% và 70%) và Ethiopia (cung cấp chính dòng nước ở thượng nguồn với 86% và 95% lưu lượng mùa lũ). Quan điểm lấy nhà nước làm trung tâm về phát triển nguồn nước sông Nile vẫn chi phối lưu vực được coi là nguyên nhân cốt lõi cho những bất đồng (Swain, 2011). Nhu cầu gia tăng nhưng tình trạng khô hiếm nước càng trở nên nghiêm trọng dưới tác động của biến đổi khí hậu đã thúc đẩy các quốc gia ven sông tập trung vào lợi ích trước mắt và hành động đơn phương hơn sự hợp tác đa phương bền vững lâu dài. Một khía cạnh dự đoán khác được chỉ ra trong nghiên cứu của Swain đến gần đây vẫn cho thấy phần nào chính xác khi lưu vực sông Nile còn lâu mới đạt được một cơ chế hợp tác quản lý nước hiệu quả và với sự đóng góp ít ỏi của chính các quốc gia thành viên mà chỉ chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tài trợ quốc tế thì tính lâu dài và NBI vẫn là sự nghi ngờ có căn cứ (Swain, 2011).

1.3. Sự tương đồng và khác biệt của hai cơ chế lưu vực sông

Xét về cơ bản, hai cơ chế hợp tác lưu vực sông là LMC và NBI đều là những cơ chế hợp tác mang tính toàn diện đầu tiên khi tất cả các quốc gia trong lưu vực sông đều tham gia. Cả hai đều nhìn nhận vấn đề hợp tác và quản lý nguồn nước xuyên biên giới là quan trọng và hướng tới các mục tiêu chung phát triển đời sống kinh tế xã hội của các nước ven sông bền vững và hiệu quả. Tuy nhiên, cụ thể tiến trình triển khai và hành động của hai cơ chế này lại có những sự khác biệt, tóm gọn trong ba vấn đề là không gian hợp tác, tính hiệu quả và bền vững cùng vai trò của các chủ thể quan trọng trong cấu trúc.

Đầu tiên, dù thành lập muộn hơn nhưng LMC (2016) lại có những điểm mạnh trong thể chế vận hành với các hội nghị ở cấp cao nhất hai năm một lần và những hội nghị bộ trưởng mỗi năm, còn NBI (1999) tới tận năm 2017 mới tổ chức được hội nghị thượng đỉnh nguyên thủ quốc gia lưu vực sông Nile lần thứ nhất và nó được cho là cũng không hiệu quả (Thông tấn xã Việt Nam, 2017). Không gian đối thoại có sự đối lập dù các quốc gia đều bày tỏ sự quan tâm đến vấn đề nguồn nước. Sự hợp tác của LMC có thể thấy được những bước tiến ổn định và cởi mở hơn một sự hợp tác đan xen xung đột liên tục giữa các quốc gia thành viên NBI (chủ yếu là Ai Cập, Sudan và Ethiopia).

Tiếp theo, các ưu tiên chính và cơ chế vận hành giữa hai bên cũng có sự khác biệt. Với khuôn khổ 3+5 ổn định và chú trọng vào vấn đề kết nối khu vực và hàng loạt các dự án cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội hiệu quả dưới sự cung cấp tài chính lớn từ Trung Quốc, LMC cho thấy mức độ các quốc gia hội nhập và hưởng lợi từ sự phát triển của nguồn nước hiệu quả. Cùng với đó là các tác động và khả năng duy trì bền vững hợp tác giữa các quốc gia thành viên cũng cao hơn. Ở NBI, vấn đề chia sẻ nguồn nước (thông qua CFA) thể hiện luôn là vấn đề xung đột và khó khăn trong tạo sự đồng thuận giữa các quốc gia khiến hiệu quả của các dự án kéo theo năng lượng, lương thực, môi trường,… vẫn còn nhiều thách thức. Một vấn đề khác là nguồn tài chính chủ yếu đến từ viện trợ quốc tế mà không phải là từ chính các quốc gia khiến quá trình hành động và tính bền vững của các dự án vẫn là điều đáng nghi ngờ.

Cuối cùng, xuất phát từ vai trò của các chủ thể quan trọng trong lưu vực sông. Trung Quốc, cường quốc có vai trò nổi bật và bảo trợ kinh tế chủ yếu, so với các quốc gia khác trong LMC có ưu thế rõ ràng và gây nhiều ảnh hưởng đáng lo ngại cho các quốc gia khác. Còn NBI lại là chủ yếu tập trung nhiều ở Ethiopia, Ai Cập, Sudan với những thay đổi trong vị thế ảnh hưởng chính trị và ngoại giao đặc biệt là Ai Cập khiến cơ chế hợp tác này lại thiếu tính đồng thuận và yếu tố thúc đẩy hợp tác từ một chủ thể có tính ảnh hưởng then chốt như Trung Quốc trong LMC. Một khía cạnh đặc biệt ở đây là yếu tố Trung Quốc với những chiến lược toàn cầu cũng được ghi nhận sự xuất hiện trong các thay đổi của tình hình an ninh nguồn nước lưu vực sông Nile với những tài trợ kinh tế và công nghệ cho các quốc gia thông qua các dự án thủy điện (Swain, 2011).

  1. Quản trị an ninh phi truyền thống trong LMC và NBI: Thành tựu và thách thức

2.1. Đối với an ninh nguồn nước

LMC đã đạt được những thành tựu đáng kể trong hợp tác tài nguyên nước. Cơ chế này đã tổ chức Diễn đàn Hợp tác Tài nguyên Nước Mekong-Lan Thương lần thứ hai và ra mắt “Khuyến nghị Bắc Kinh” nhằm tái khẳng định sự đồng thuận về hợp tác lưu vực sông (Krittasudthacheewa, 2022). Một trong những thành tựu quan trọng là Nền tảng Chia sẻ Thông tin Hợp tác Tài nguyên Nước Mekong-Lan Thương đã hoạt động trơn tru, liên tục chia sẻ dữ liệu thủy văn cả năm của sông Lan Thương từ năm 2020. Điều này đã giúp các nước thành viên nâng cao năng lực ứng phó với lũ lụt và hạn hán (LMC China Secretariat, 2024).

         Các quốc gia tham gia LMC đã nhấn mạnh vai trò nền tảng của hợp tác tài nguyên nước trong việc xây dựng khả năng chống chịu thiên tai, đảm bảo phòng chống lũ lụt và hạn hán, an ninh lương thực và năng lượng, cung cấp nước, bảo vệ sinh thái, và hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội bền vững (Ministry of Foreign Affairs People’s Republic of China, 2022). LMC cũng đang hướng tới Kế hoạch Hành động 5 năm lần thứ hai về Hợp tác Tài nguyên Nước Mekong-Lan Thương (2023-2027) nhằm tiếp tục cải thiện khuôn khổ hợp tác, thúc đẩy phát triển và sử dụng nước bền vững, chia sẻ thông tin, phòng chống thiên tai, xây dựng năng lực và đào tạo nhân sự.

         Sự phát triển của LMC trong việc quản trị an ninh nguồn nước cho thấy một sự chuyển đổi từ chia sẻ dữ liệu cơ bản sang quản trị lưu vực toàn diện. Ban đầu, LMC tập trung vào việc thiết lập các diễn đàn và nền tảng chia sẻ dữ liệu thủy văn cơ bản. Tuy nhiên, các kế hoạch tương lai (2023-2027) và lời kêu gọi của Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường đã mở rộng phạm vi hợp tác sang “quản trị toàn lưu vực”và “tăng cường phối hợp chính sách”để đảm bảo sử dụng tài nguyên nước công bằng và bền vững. Sự mở rộng này phản ánh một nhận thức ngày càng tăng về tính phức tạp của quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới, vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần trao đổi dữ liệu. Nếu được thực hiện hiệu quả, sự chuyển đổi này có thể dẫn đến các chính sách tích hợp hơn, cân bằng lợi ích giữa các quốc gia thượng nguồn và hạ nguồn, và nâng cao khả năng chống chịu tổng thể của lưu vực trước các cú sốc. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi mức độ tin cậy và phối hợp cao hơn, vốn là những thách thức lớn trong khu vực.

Đối với NBI, An ninh nguồn nước là một trong sáu mục tiêu chiến lược chính của NBI. NBI đã phát triển nhiều hệ thống và công cụ để nâng cao an ninh nguồn nước, bao gồm Hệ thống Dự báo Dòng chảy Sông Nile, Hệ thống Cảnh báo Sớm Lũ quét Lưu vực Sông Nile (NB-FFEWS), Hệ thống Giám sát Thủy văn Lưu vực Sông Nile, và Hệ thống Cảnh báo Sớm Hạn hán Lưu vực Sông Nile (Nile DEWS). Đặc biệt, Nile DEWS được phát triển vào năm 2025 để giám sát và dự báo hạn hán khí tượng, thủy văn và nông nghiệp trên 84 tiểu lưu vực và ở các quy mô lưới khác nhau nhằm giúp giảm thiểu tác động của hạn hán.

NBI cũng có Cơ sở dữ liệu Chất lượng Nước, ra mắt vào năm 2023, nhằm tập trung dữ liệu từ các chiến dịch giám sát chất lượng nước của các quốc gia thành viên và giám sát liên tục trên toàn lưu vực. Ngoài ra, còn có Hệ thống Quản lý Cơ sở dữ liệu Nước ngầm và Hệ thống Hỗ trợ Quyết định Lưu vực Sông Nile. Kế hoạch Quản lý Lưu vực Sông Nile 2022 là một kế hoạch toàn diện cho quản lý tài nguyên nước.

Các chính sách và hoạt động của NBI trong an ninh nguồn nước thể hiện sự đầu tư đáng kể vào các hệ thống giám sát, dự báo và cơ sở dữ liệu. Điều này cho thấy một cách tiếp cận dựa trên Khoa học và Công nghệ để hiểu rõ hơn về tài nguyên nước và các rủi ro liên quan như hạn hán và lũ lụt. Việc tập trung vào dữ liệu và dự báo là nền tảng quan trọng để ra quyết định hiệu quả và tăng cường khả năng chống chịu. Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của các hệ thống này phụ thuộc vào khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các quốc gia thành viên và chuyển đổi thông tin thành hành động chính sách phối hợp.

2.2. Đối với an ninh môi trường

LMC đã đạt được kết quả đáng ghi nhận trong việc thực hiện Chiến lược Hợp tác Môi trường Mekong-Lan Thương (2018-2022) và Sáng kiến Mekong-Lan Thương Xanh (Green Mekong-Lancang Initiative). Sáng kiến Mekong-Lan Thương Xanh đã thúc đẩy hợp tác môi trường khu vực, mang lại hơn 30 kết quả nghiên cứu về quản lý hệ sinh thái nước ngọt, chính sách quản lý môi trường nước, xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững và phát triển các khu công nghiệp xanh.

Trong khuôn khổ này, LMC đã tổ chức hơn 20 cuộc đối thoại chính sách môi trường và hội thảo xây dựng năng lực, với hơn 2.000 người tham gia. Các sự kiện này đã bao gồm các lĩnh vực quản trị môi trường nước, biến đổi khí hậu và phát triển carbon thấp, cơ sở hạ tầng bền vững và đánh giá tác động môi trường. Các dự án thí điểm đã trực tiếp mang lại lợi ích cho hơn 2.500 người dân, ví dụ như dự án xử lý nước thải tại trường học ở Luang Namtha, Lào, đã giải quyết vấn đề xử lý nước thải cho hơn 2.000 giáo viên và học sinh (LMEC, 2021). Các Bộ trưởng hoan nghênh việc soạn thảo Chiến lược và Khung hành động Hợp tác Môi trường Mekong-Lan Thương (2023-2027) và nhấn mạnh nhu cầu tăng cường trao đổi chính sách môi trường liên và nội bộ ngành.

Các hoạt động này cho thấy LMC đang chuyển từ nghiên cứu và thí điểm sang tích hợp kinh tế xanh và phát triển bền vững. Các hoạt động ban đầu của LMC trong an ninh môi trường tập trung vào nghiên cứu, đối thoại chính sách và các dự án thí điểm cụ thể. Tuy nhiên, các kế hoạch và thỏa thuận gần đây cho thấy sự dịch chuyển sang việc “tăng cường hợp tác trong Kinh tế Sinh học-Tuần hoàn-Xanh (Bio-Circular-Green Economy)”, “thúc đẩy công nghệ và giải pháp đổi mới”, và “tăng cường quan hệ đối tác đa bên” để chuyển đổi khu vực sang trung hòa carbon và phát thải ròng bằng 0. Sự dịch chuyển này phản ánh sự nhận thức sâu sắc hơn về tính liên kết giữa môi trường và phát triển kinh tế. Việc tích hợp các nguyên tắc kinh tế xanh vào khuôn khổ hợp tác không chỉ giúp giải quyết các vấn đề môi trường mà còn thúc đẩy tăng trưởng bền vững, tạo ra lợi ích kinh tế lâu dài cho các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, việc thực hiện các mục tiêu tham vọng này đòi hỏi sự phối hợp chính sách mạnh mẽ và đầu tư đáng kể.

Đối với NBI, Bền vững môi trường là một trong những mục tiêu cốt lõi của NBI.  NBI đã phát triển Chính sách Môi trường và Xã hội (ESP) vào năm 2013, nhằm đảm bảo tính bền vững về môi trường và xã hội của các chương trình và hoạt động của mình. ESP nhấn mạnh việc bảo vệ và quản lý các hệ sinh thái quan trọng như vùng đất ngập nước, vốn đang bị đe dọa do sự bảo vệ và quản lý không đủ.

NBI có Cổng thông tin Dòng chảy Môi trường (Environmental Flows Portal), bao gồm Cơ sở dữ liệu Dòng chảy Môi trường, Chiến lược Dòng chảy Môi trường của NBI, và các tài liệu học tập điện tử liên quan. Chính sách này cũng đề cập đến các thách thức môi trường như ô nhiễm do chất thải từ đô thị, công nghiệp, hoạt động khai thác mỏ và mức độ khoáng chất hòa tan cao trong nước ngầm.

Việc NBI có một Chính sách Môi trường và Xã hội và các cổng thông tin chuyên biệt cho dòng chảy môi trường cho thấy một cam kết mạnh mẽ và một khuôn khổ chính sách được xây dựng tốt. Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá đang bị đe dọa do “nhu cầu ngày càng tăng” từ tăng trưởng kinh tế và dân số, với nguy cơ “thiệt hại không thể đảo ngược” nếu sức chịu tải bị vượt quá. Điều này ngụ ý rằng mặc dù có các chính sách và công cụ, áp lực phát triển kinh tế và dân số có thể làm suy yếu khả năng thực thi và đạt được các mục tiêu bền vững môi trường. Thách thức nằm ở việc cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong bối cảnh tài nguyên khan hiếm và nhu cầu ngày càng tăng.

2.3. Đối với biến đổi khí hậu

LMC đã có những nỗ lực tăng cường hợp tác để giải quyết tác động của biến đổi khí hậu (The State Council of The People’s Republic of China, 2016). Các Bộ trưởng đã hoan nghênh việc soạn thảo Chiến lược và Khung hành động Hợp tác Môi trường Mekong-Lan Thương (2023-2027) và nhấn mạnh nhu cầu tăng cường xây dựng năng lực trong giảm thiểu và thích ứng biến đổi khí hậu. LMC cũng đồng ý cùng phát triển Trung tâm Tri thức Mekong-Lan Thương về Cơ sở hạ tầng Carbon thấp, Xanh và Bền vững. Các dự án thí điểm về cộng đồng carbon thấp và trường học khí hậu đang được triển khai.

Biến đổi khí hậu trong khuôn khổ LMC được tích hợp sâu rộng vào các lĩnh vực hợp tác khác. Thay vì chỉ là một lĩnh vực hợp tác riêng biệt, biến đổi khí hậu còn được đề cập trong bối cảnh an ninh nguồn nước (xây dựng khả năng chống chịu khí hậu, phòng chống lũ lụt và hạn hán) và an ninh môi trường (phát triển carbon thấp, cơ sở hạ tầng xanh). Điều này cho thấy một cách tiếp cận đa chiều, công nhận rằng biến đổi khí hậu là một yếu tố xuyên suốt tác động đến nhiều khía cạnh của an ninh phi truyền thống. Cách tiếp cận tích hợp này có tiềm năng lớn để tạo ra các giải pháp toàn diện và bền vững hơn, tránh các giải pháp cô lập có thể không hiệu quả. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi mức độ phối hợp cao giữa các bộ ngành và lĩnh vực khác nhau trong từng quốc gia và giữa các quốc gia thành viên.

Thích ứng biến đổi khí hậu là một mục tiêu chính của NBI. NBI đã phát triển Chiến lược Biến đổi Khí hậu (Climate Change Strategy) vào năm 2013, tập trung vào quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới như một yếu tố chiến lược cho thích ứng khí hậu và phát triển carbon thấp (NBI, 2013). Chiến lược này xác định các khoảng trống và mối đe dọa trong tương lai, đưa ra các mục tiêu chiến lược và các biện pháp giảm thiểu và thích ứng hiệu quả.

NBI có Trung tâm Chống chịu Khí hậu (Climate Proofing Hub) cung cấp các công cụ và tài liệu hướng dẫn về thích ứng khí hậu, bao gồm Sổ tay Chống chịu Tương tác và Cơ sở dữ liệu Kịch bản Khí hậu.Các hệ thống cảnh báo sớm như Nile DEWS (hạn hán) và NB-FFEWS (lũ quét) đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng chống chịu khí hậu.

Mặt khác, NBI cũng có chiến lược biến đổi khí hậu được thể chế hóa cao, nhưng phải đối mặt với thách thức về nguồn dữ liệu và năng lực thực thi. NBI đã phát triển một Chiến lược Biến đổi Khí hậu riêng biệt và toàn diện, cho thấy sự nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của vấn đề này. Tuy nhiên, các thách thức như “thiếu dữ liệu, thông tin và kiến thức đầy đủ” về tác động của biến đổi khí hậu, “năng lực thể chế và kỹ thuật hạn chế” ở cấp quốc gia và khu vực, và “thiếu sự phối hợp” giữa các biện pháp ứng phó biến đổi khí hậu hiện có. Điều này cho thấy rằng việc có một chiến lược mạnh mẽ trên lý thuyết là chưa đủ; khả năng thực thi và hiệu quả của nó phụ thuộc vào việc khắc phục các rào cản về dữ liệu, năng lực và phối hợp. Sự phụ thuộc vào các nguồn tài chính bên ngoài cũng là một yếu tố cần xem xét.

2.4. Thành tựu và thách thức

Trong khuôn khổ Hợp tác Lan Thương-Mekong (LMC): LMC đã thành công trong việc thiết lập một cơ chế hợp tác tiểu vùng mới với “tốc độ”và “hiệu suất”cao. Cơ chế này đã nâng cao chia sẻ thông tin thủy văn, đặc biệt là dữ liệu cả năm từ sông Lan Thương, giúp cải thiện khả năng ứng phó lũ lụt và hạn hán. LMC cũng đạt được tiến bộ trong hợp tác môi trường thông qua Sáng kiến Mekong-Lan Thương Xanh, với các kết quả nghiên cứu và dự án thí điểm mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng.Trong lĩnh vực an ninh dịch bệnh, LMC đã phản ứng nhanh chóng và cung cấp hỗ trợ đáng kể trong cuộc chiến chống COVID-19, bao gồm vaccine, vật tư y tế và chuyển giao công nghệ. Ngoài ra, cơ chế này đã thúc đẩy đối thoại chính sách và xây dựng năng lực trong nhiều lĩnh vực an ninh phi truyền thống.

Trong khuôn khổ Sáng kiến Lưu vực Sông Nile (NBI): NBI đã thiết lập một diễn đàn toàn diện và trung lập đầu tiên cho các quốc gia ven sông Nile để đối thoại, chia sẻ thông tin và quản lý tài nguyên nước. Một thành tựu quan trọng là NBI đã xây dựng lòng tin và tăng cường năng lực giữa các quốc gia thành viên, vượt qua lịch sử chia rẽ và thiếu lòng tin (World Bank, 2019). NBI đã phát triển các hệ thống giám sát và dự báo tiên tiến cho an ninh nguồn nước, bao gồm cảnh báo sớm hạn hán và lũ lụt. Cơ chế này cũng đã xây dựng khuôn khổ chính sách toàn diện cho bền vững môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu, và tạo ra kiến thức và thông tin sâu rộng về lưu vực sông Nile, có sẵn cho tất cả các bên liên quan (World Bank, 2015).

Bên cạnh những thành tựu, cả hai định chế này cũng phải đối mặt với những thách thức như:

Đối với LMC, thứ nhất, việc củng cố niềm tin, đặc biệt là sau sự kiện Nền tảng Chia sẻ Thông tin Hợp tác Tài nguyên Nước Mekong-Lan Thương (LMWRC) không giải thích đầy đủ về sự biến động kéo dài của dòng nước sau đợt bảo trì thượng nguồn của Trung Quốc vào tháng 1 năm 2021 đã làm xói mòn lòng tin và thể hiện sự thiếu minh bạch trong quản trị an ninh nguồn nước giữa Trung Quốc với các nước hạ lưu và với cơ chế LMC. Dù không tuyệt đối, nhưng một số hoạt động của MLC có xu hướng làm gia tăng quyền lực của Trung Quóc đối với các quốc gia khác trong khu vực bởi họ kiểm soát được thượng nguồn sông Mekong và nhiều dự án lớn trong khuôn khổ MLC (Phùng & Hoàng, 2024, 7). Thứ hai, các dự án của LMC phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Quốc, do đó, sự phụ thuộc vào nguồn tài chính từ một quốc gia có thể tạo ra sự mất Cân bằng quyền lực, làm phức tạp thêm việc chia sẻ lợi ích. Thứ ba, song song với các dự án xoay quanh LMC, Trung Quốc cũng đẩy mạnh triển khai các dự án lớn về cơ sở hạ tầng được tài trợ bởi BRI, vì vậy, việc quản trị nguồn nước trong khuôn khổ LMC có nguy cơ bị làm lu mờ. Cuối cùng, LMC thiếu các khuôn khổ chuẩn mực nhất quán cho quản trị nước xuyên biên giới. Cuộc khủng hoảng ở Myanmar cũng làm phức tạp các nỗ lực cải cách LMC và đa dạng hóa nguồn tài chính. Sự bất ổn chính trị nội bộ trong các quốc gia thành viên có thể làm suy yếu năng lực điều phối và khả năng thích ứng của cơ chế hợp tác khu vực. Việc Myanmar, một quốc gia đồng chủ tịch LMC, trải qua khủng hoảng chính trị cho thấy các yếu tố nội bộ của một quốc gia thành viên có thể có tác động đáng kể đến hoạt động và hiệu quả của một cơ chế hợp tác khu vực. Sự bất ổn này có thể làm chậm trễ các quyết định, làm giảm khả năng tham gia và đóng góp của quốc gia đó, và làm phức tạp các nỗ lực cải cách hoặc mở rộng hợp tác. Các cơ chế quản trị xuyên biên giới cần phải phát triển các chiến lược để đối phó với sự bất ổn chính trị nội bộ của các quốc gia thành viên, bao gồm các kế hoạch dự phòng và khả năng duy trì hợp tác ngay cả khi một thành viên gặp khó khăn.

Về phương diện NBI, thứ nhất, việc thiếu dữ liệu thô, khó khăn trong quá trình tổng hợp và Phân tích dữ liệu thủy văn có thể khiến giới hoạch định chính sách không có cái nhìn toàn diện và đáng tin về tình hình lưu vực sông Nile, do đó có thể dẫn đến các quyết định phân mảnh, không hiệu quả hoặc thích ứng sai với hiện trạng nguồn nước. Thứ hai, cũng giống như LMC, NBI cũng phải đối diện với sự thiếu lòng tin do sự khác biệt và một số quốc gia còn hoài nghi về hiệu quả của cơ chế NBI và những bất đồng về mặt lợi ích trong hợp tác đa phương. Một số vấn đề còn tồn đọng như việc quyền sở hữu và kiểm soát sông Nile trong thời gian qua đã trở thành rào cản vô hình, làm hạn chế và gây khó khăn cho các quốc gia trong NBI hướng tới hợp tác. Cuối cùng, năng lực thể chế và kỹ thuật của các nước trong khuôn khổ NBI còn hạn chế, dẫn đến việc xây dựng và thực hiện các chính sách liên quan đến khí hậu không hiệu quả, đặc biệt trong việc điều phối ở cấp độ khu vực và xuyên biên giới.

Nhìn chung, cả hai cơ chế trên đều phải đối mặt với những thách thức cố hữu, khó giải quyết trong thời gian ngắn. Minh bạch dữ liệu, vấn đề lòng tin và sự khác biệt, cùng việc thiếu kinh nghiệm trong việc kiểm soát, điều hành thể chế là những vấn đề mà hai tổ chức này cần thảo luận, đàm phán nhằm đưa ra những cách giải quyết trên cơ sở đạt được sự đồng thuận tối đa của các quốc gia thành viên.

  1. Kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho quản trị lưu vực sông xuyên quốc gia

Đối với các thể chế quản trị an ninh phi truyền thống, đặc biệt là LMC và NBI đều cần phải có những cách tiếp cận mới với vấn đề mang tính nền tảng của cả hai cơ chế là sự tin cậy chiến lược và phối hợp chính sách giữa các nước thành viên. Đây là điều kiện tiên quyết để giải quyết và quản lý hiệu quả các chương trình hành động của hai cơ chế, trong đó đặc biệt là NBI. Một vài giải pháp cơ bản có thể đề xuất cho điều này như sau:

Thứ nhất, tăng cường thể chế lưu vực và hành lang chính sách lấy hợp tác đa phương làm trung tâm. Điều này nhấn mạnh sự kết nối liên tục và các cam kết ở cấp nguyên thủ của các quốc gia trong các cuộc họp thường kỳ và đột xuất trong giải quyết các vấn đề nguồn nước xuyên biên giới. Nhận thức và hành động cần được thúc đẩy thông qua các sáng kiến về chính sách chung và tiến tới những cam kết có tính pháp lý ràng buộc tối thiểu để giảm các động thái xung đột và đơn phương từ các bên. Đặc biệt, trong bối cảnh với những xung đột giữa các quốc gia đang diễn ra hiện nay, như gần đây là Thái Lan và Campuchia, thì các cam kết vì lợi ích chung vẫn được duy trì như một kênh ngoại giao liên tục để không làm gián đoạn hợp tác trong vấn đề nguồn nước quan trọng này.

Thứ hai, tăng cường minh bạch trong chia sẻ dữ liệu. Các cơ chế hướng tới việc điều tiết và quản lý nguồn nước ở hai đầu thượng nguồn và hạ nguồn để phục vụ kịp thời các công tác nghiên cứu, dự báo lũ lụt, hạn hán, tác động của biến đổi khí hậu và môi trường sống đặc biệt là các tác động cần được đo lường từ các dự án thủy điện mà các quốc gia có kế hoạch xây dựng. Tính hiệu quả và kết nối của các cơ chế lưu vực sông sẽ được đánh giá và nhấn mạnh làm thước đo cho niềm tin tập thể để quản trị bền vững.

Thứ ba, tăng cường hợp tác ở nhiều cấp độ. Các dự án nghiên cứu chung giữa các viện nghiên cứu hay các buổi giao lưu thế hệ trẻ, xúc tiến du lịch,… đều là những kênh đa dạng để mở rộng không gian đối thoại và sự đồng thuận với những dự án hợp tác xuyên biên giới. Những điều này hiện nay vẫn còn bị hạn chế trong cả số lượng và chất lượng để các nước sẵn sàng hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn. Tổ chức hợp tác này cần nhấn mạnh vào sự hiệu quả cũng như tính liên kết mạnh liên tục giữa các chủ thể và được sự hỗ trợ chủ động tương xứng từ các cấp ngoại giao. Việc xem xét và bổ sung thêm bộ phận chuyên biệt hơn để thúc đẩy và giám sát, đo lường hiệu quả hợp tác các vấn đề này là cần thiết.

Một vấn đề khác mà mục tiêu cả hai cơ chế đều chia sẻ là sự phát triển bền vững làm cốt lõi cho hợp tác. Việc kịp thời nắm bắt được các xu thế của phương hướng phát triển cũng là động lực quan trọng để duy trì động lực của các cơ chế hợp tác đa phương.

Thứ nhất, củng cố các hợp tác có sẵn và huy động các nguồn lực tiềm năng cho phát triển. Các dự án đã đạt được tín hiệu tích cực và nhận được đồng thuận cao giữa các thành viên tiếp tục duy trì và mở rộng ở quy mô và chất lượng, đi kèm với đó là sự huy động các nguồn tài chính và tín dụng đầu tư lâu dài vào quá trình mở rộng hợp tác này. Tuy nhiên, nhấn mạnh trách nhiệm đa phương trong giám sát chặt chẽ các dự án đầu tư để đạt được sự hiệu quả có giá trị lan tỏa. Việc huy động các nguồn lực nội tại trong lưu vực đi cùng với trách nhiệm hợp tác đa phương, nhất là vấn đề tài chính, có thể cung cấp thêm những kỳ vọng về hiệu quả lợi ích kinh tế chung bền vững giữa chính các quốc gia để giảm xung đột do nhu cầu tăng trưởng riêng lẻ.

Thứ hai, bắt kịp chuyển đổi số trong quy trình vận hành và phát triển của các cơ chế. Sự nhanh chóng và chính xác cần được nêu ra để sự phối hợp hành động của các bên thêm thuận tiện. Chuyển đổi số phục vụ các dự án kinh tế số mang tính xuyên biên giới là nhu cầu tất yếu và tối ưu chi phí cho các hoạt động khác nhau. Cần nhấn mạnh sự chuyển đổi cần được thực hiện đồng bộ và chia sẻ giữa các quốc gia để mang lại sự bền vững và công bằng cho phát triển vì lợi ích chung.

Qua khảo cứu có thể thấy một thực tế rằng, phần lớn các cơ chế quản trị an ninh phi truyền thống tại khu vực Á – Phi, trong đó có LMC và NBI đang phải đối mặt với những thách thức ngoại lai từ những biến động của trật tự thế giới, và đặc biệt là những thức nội tại, nằm ở sự bất đồng nội bộ, vấn đề chia sẻ niềm tin và năng lực quản trị.

Đầu tiên, cần tăng cường niềm tin chiến lược thông qua hợp tác đa phương thể chế hóa: Các quốc gia tham gia Hợp tác Mê Kông – Lan Thương (LMC) và Sáng kiến Lưu vực Sông Nile (NBI) cần ưu tiên xây dựng các khung thể chế vững chắc để thúc đẩy niềm tin chiến lược. Điều này bao gồm cam kết tổ chức các hội nghị cấp cao định kỳ và các cuộc đối thoại kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề quản trị nguồn nước xuyên biên giới. Việc thiết lập các thỏa thuận pháp lý ràng buộc với các cơ chế rõ ràng về chia sẻ dữ liệu và giải quyết xung đột sẽ giúp giảm thiểu các hành động đơn phương, như xây đập thượng nguồn, đồng thời thúc đẩy ra quyết định tập thể. Ví dụ, các nước LMC có thể tận dụng “khuôn khổ 3+5” để đảm bảo sử dụng tài nguyên công bằng, trong khi các quốc gia NBI cần giải quyết tranh chấp liên quan đến Hiệp định Khung Hợp tác (CFA) để tăng cường hợp tác giữa các nước thượng nguồn và hạ nguồn.

Thứ hai, nâng cao tính minh bạch dữ liệu và tích hợp công nghệ: Các quốc gia LMC và NBI nên đầu tư vào các nền tảng chia sẻ dữ liệu minh bạch và các hệ thống công nghệ tiên tiến, như hệ thống cảnh báo sớm lũ lụt và hạn hán, để cải thiện quản trị an ninh nguồn nước. Học hỏi từ Hệ thống Hỗ trợ Quyết định Lưu vực Sông Nile của NBI và nền tảng chia sẻ dữ liệu thủy văn của LMC, các quốc gia thành viên cần chuẩn hóa việc thu thập và phân tích dữ liệu để cung cấp thông tin đáng tin cậy cho hoạchtheo dõi chính sách. Việc tích hợp chuyển đổi số, như giám sát thời gian thực và mô hình dự đoán, sẽ nâng cao khả năng phối hợp ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu và thách thức môi trường, đồng thời giảm thiểu sự thiếu tin cậy giữa các quốc gia.

Cuối cùng, thúc đẩy hợp tác đa cấp và phát triển bền vững: Để đạt được các mục tiêu phát triển chung, các quốc gia LMC và NBI nên mở rộng hợp tác vượt ra ngoài cấp chính phủ, bao gồm cả cộng đồng địa phương, các viện nghiên cứu và khu vực tư nhân. Các sáng kiến như dự án nghiên cứu chung, giao lưu thanh niên và các chương trình thí điểm về kinh tế xanh, như Sáng kiến Mê Kông – Lan Thương Xanh của LMC, có thể thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và đồng thuận. Bằng cách đa dạng hóa nguồn tài trợ và giảm phụ thuộc vào viện trợ bên ngoài hoặc tài chính từ một quốc gia duy nhất (như Trung Quốc trong LMC hoặc các nhà tài trợ quốc tế trong NBI), các quốc gia thành viên có thể đảm bảo lợi ích công bằng và tính bền vững lâu dài, phù hợp với xu hướng toàn cầu hướng tới nền kinh tế sinh học – tuần hoàn – xanh.

Kết luận

Nhìn chung, sự xuất hiện của LMC và NBI đã tạo nên nền tảng hợp tác cơ bản và đầy đủ nhất trong cả hai lưu vực sông. Hai cơ chế đều đạt được những thành tựu đáng ghi nhận với không gian đối thoại rộng mở và các chương trình nghị sự nhằm thúc đẩy quá trình quản lý và chia sẻ dòng nước đi kèm với sự phát triển của đời sống kinh tế-xã hội của người dân. Tuy nhiên, các thách thức vẫn mang tính cấu trúc và lâu dài khi tập trung vào các vấn đề năng lực thể chế, bất đồng lợi ích giữa các quốc gia, thiếu minh bạch về dữ liệu và phụ thuộc tài chính, đặc biệt cốt lõi là niềm tin chiến lược lẫn nhau. Tóm lại, kinh nghiệm từ LMC và NBI khẳng định rằng vấn đề quản trị nguồn nước xuyên biên giới hiệu quả là yếu tố thúc đẩy hợp tác khu vực bền vững và mang lại lợi ích chung cho các quốc gia. Điều này đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam và các nước đang phát triển, nơi sự gắn kết lợi ích chung và niềm tin chiến lược sẽ quyết định thành công của hợp tác khu vực.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Brennan, E. (2018). China eyes its next prize – the Mekong. The Interpreter. Retrieved August 8, 2025, from https://www.lowyinstitute.org/the-interpreter/china-eyes-its-next-prize-mekong
  2. Krittasudthacheewa, C. (2022). Enhance water management cooperation in Lancang-Mekong region. SEI. Retrieved August 9, 2025, from https://www.sei.org/about-sei/press-room/enhance-water-management-cooperation-in-lancang-mekong-region/
  3. Kurlantzick, J. (2006). China’s charm offensive in Southeast Asia. Current History, 105(682), 270-276.
  4. Li, M. (2015). The People’s Liberation Army and China’s smart power quandary in Southeast Asia. Journal of Strategic Studies, 38(3), 359-382. https://doi.org/10.1080/01402390.2014.1002910
  5. LMC China Secretariat. (2024). Lancang-Mekong water resources cooperation a testament to regional solidarity. Lancang – Mekong Cooperation. Retrieved August 9, 2025, from http://www.lmcchina.org/eng/2024-03/19/content_42728557.html
  6. LMEC. (2021). Green Lancang-Mekong Initiative. LMEC. Retrieved August 10, 2025, from http://en.lmec.org.cn/news_and_events/lmec_news/202108/t20210802_122817.html
  7. Ministry of Foreign Affairs People’s Republic of China. (2022). Joint Press Communiqué of the Seventh Mekong-Lancang Cooperation Foreign Ministers’ Meeting. Retrieved August 9, 2025, from https://www.mfa.gov.cn/eng/zy/jj/2020zt/kjgzbdfyyq/202208/t20220815_10743231.html
  8. NBI. (2013). NBI Climate Change Strategy. Retrieved August 9, 2025, from https://nilebasin.org/sites/default/files/2024-04/8.1%20NBI%20Climate%20Change%20Strategy.pdf
  9. Nile Basin Initiative. (2019). A long river journey 20 years of cooperation under the NBI. Retrieved August 9, 2025, from https://nilebasin.org/sites/default/files/attachments/A-Long-River-Journey_web.pdf
  10. Phùng, K. C., & Hoàng, A. T. (2024). Định chế tiểu đa phương ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hiện nay và liên hệ với Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (3), 3-12.
  11. Qin, H. (2010). ‘Meigonghe kushui zhi si’ [Thoughts on the drought of the Mekong River]. Jingji Kuancha Wang [Economic Affairs Observer]. Retrieved August 8, 2025, from http://www.eeo.com.cn/observer/shijiao/2010/04/13/167385.shtml
  12. The State Council of The People’s Republic of China. (2016). Sanya Declaration of the First LMC Leaders’ Meeting. Retrieved August 10, 2025, from https://english.www.gov.cn/news/top_news/2016/03/23/content_281475313057324.htm
  13. Swain, A. (2011). Challenges for water sharing in the Nile basin: changing geo-politics and changing climate. Hydrological Sciences Journal, 56(4), 687-702. https://doi.org/10.1080/02626667.2011.577037
  14. Thông tấn xã Việt Nam. (2017). Vì sao Hội nghị thượng đỉnh sông Nile không đạt được thỏa thuận quan trọng? https://bnews.vn/vi-sao-hoi-nghi-thuong-dinh-song-nile-khong-dat-duoc-thoa-thuan-quan-trong-/52313.html
  15. Thông tấn xã Việt Nam. (2024). Hiệp định khung Hợp tác Lưu vực sông Nile có hiệu lực. Retrieved August 8, 2025, from https://nvsk.vnanet.vn/hiep-dinh-khung-hop-tac-luu-vuc-song-nile-co-hieu-luc-4-154511.vna 
  16. World Bank. (2015). Cooperation in the Nile Basin: Sharing and using knowledge to improve water resource management. The Nile Story. Retrieved August 10, 2025, from https://documents1.worldbank.org/curated/en/803001468185966729/pdf/102252-BRI-P092334-PUBLIC-ADD-SERIES-Box394828B-Brief-6-Informing-Nile-Dialogue.pdf
  17. World Bank. (2019). Stronger Together: 20 Years of Cooperation Around the Nile. World Bank. Retrieved August 10, 2025, from https://www.worldbank.org/en/news/feature/2019/02/22/stronger-together-20-years-of-cooperation-around-the-nile
  18. Zhang, H., & Li, M. (2019). Thirsty China and its transboundary waters. In H. Zhang & M. Li (Eds.), China and Transboundary Water Politics in Asia (Vol. 5, pp. 3-24). Taylor & Francis Group.