Trích yếu
Cuộc cải cách bộ máy Chính phủ lần thứ tư của Trung Quốc (1998) là cuộc cải cách lớn nhất về quy mô và có tính chất định hình hiệu quả rõ ràng nhất cho tới nay trong chín cuộc cải cách của Trung Quốc. Việc xem xét cuộc cải cách sẽ được tiến hành thông qua việc làm rõ bối cảnh và những thành tố ảnh hưởng định hình sự biến đổi của cuộc cải cách. Tiếp tục thông qua cuộc cải cách để rút ra những những vấn đề có giá trị trong hoạch định và triển khai tinh gọn của bộ máy Chính phủ Trung Quốc. Những kinh nghiệm của cuộc cải cách sau đó được xét trong tương quan với bối cảnh mới của Việt Nam để minh chứng cho công cuộc cải cách ở Việt Nam là một yêu cầu tất yếu và phải thực hiện để phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Từ đó, bài viết đưa ra những khuyến nghị cơ bản cho lý luận và thực tiễn để hoàn thiện hơn công cuộc cải cách Chính phủ của Việt Nam, hướng tới một Chính phủ tinh gọn, hiệu quả.
Từ khóa: Trung Quốc, Việt Nam, cải cách, tinh gọn bộ máy, chính phủ hiệu quả
Giới thiệu
Từ những năm 1990, trong Nghị quyết số 10-NQ/HNTW, chính sách tinh gọn bộ máy ở Việt Nam đã là một xu hướng chính sách và được ghi nhận rằng: “Kiên quyết và khẩn trương thực hiện giảm biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các tổ chức bộ máy Đảng, Nhà nước và đoàn thể. Tăng đầu tư cho chủ trương này” [1]. Tuy nhiên, một khoảng thời gian dài, chính sách này chưa được triển khai hiệu quả và mang lại những đổi mới toàn diện cho hệ thống bộ máy chính phủ của Việt Nam. Giai đoạn 2015-2021, theo báo cáo tinh giản biên chế của Bộ Nội vụ thì số lượng cán bộ, công chức, viên chức chỉ đạt về chỉ tiêu số lượng nhưng thành phần chủ yếu lại là “người về hưu, thôi việc, nghỉ việc, chỉ giảm những người tinh (có đủ năng lực tham gia khu vực tư) mà chưa thực sự gắn với việc đánh giá xếp loại hoàn thành công việc” [2]. Kỳ vọng về hiệu quả của chính sách không được đáp ứng, còn tồn tại nhiều nguyên nhân cả về mặt nhận thức cũng như thể chế gây cản trở vấn đề này. Trong giai đoạn hiện nay, trước kỷ nguyên mới của dân tộc, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của Việt Nam một lần nữa được nêu ra như một động lực toàn diện để tạo thế và lực vững chắc cho đất nước phát triển và đổi mới [3] [4].
Trung Quốc, một quốc gia có nhiều sự tương đồng nhất định với Việt Nam, từ khi cải cách mở cửa năm 1978 đến nay, công cuộc cải cách bộ máy đã tiến hành được 9 lần với chu kỳ hẹp 5 năm 1 lần. Trong những lần cải cách đó, lần cải cách thứ tư năm 1998 được coi là lần cải cách lớn nhất về quy mô và mang tính hiệu quả rõ ràng nhất để định hình nên cơ bản khung bộ máy của Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay [5]. Vì vậy, việc tham khảo kinh nghiệm từ cuộc cải cách bộ máy quyết định này của Trung Quốc vẫn luôn có nhiều giá trị tham khảo quan trọng cho việc triển khai hiệu quả chính sách tinh gọn bộ máy mà toàn hệ thống chính trị Việt Nam đang đặt ra hiện nay.
Bài viết này hướng tới việc phân tích tập trung những vấn đề trọng tâm của cuộc cải cách lần thứ tư của Trung Quốc thông qua việc khảo cứu những tài liệu chính thống của Trung Quốc công bố, cũng như các tài liệu thứ cấp đánh giá xung quanh cuộc cải cách của các học giả Việt Nam và quốc tế. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đóng góp những khuyến nghị chính sách phù hợp với tình hình hiện nay của Việt Nam.
- Cải cách lần thứ tư của Trung Quốc (1998)
1.1. Những nhân tố tác động đến cuộc cải cách
Trước cuộc cải cách năm 1998, Trung Quốc đang bước vào một thời kỳ sau mở cửa với một thể chế kinh tế hoàn toàn mới: “thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Về mặt lý luận, “thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” đã hình thành và tiếp tục hoàn thiện; vai trò của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cũng như chức năng chính phủ và chức năng thị trường,… đã được xác định lại [6]. Sự chuyển biến cơ bản của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế đặt ra những yêu cầu thích nghi và vấn đề mới của bộ máy chính quyền nhà nước.
Bối cảnh mới với sự hội nhập và dòng vốn kinh tế thu hút từ nguồn lực đầu tư của nước ngoài được Trung Quốc khuyến khích đẩy mạnh. Tuy nhiên hệ thống quan liêu phức tạp đã gây ngăn cản đầu tư nước ngoài, các hành vi tham nhũng bao gồm hối lộ và lạm dụng quyền lực được ghi nhận là phổ biến trong thời điểm đó [7]. Hệ thống nhà nước phức tạp lúc bấy giờ không thể cho phép phương pháp giáo dục mang lại được sự cải thiện nhanh chóng mà công cuộc mở cửa kinh tế yêu cầu. Vì vậy, cải cách bộ máy được đặt ra như một phương pháp cần thiết để thể chế chính trị nhanh chóng thay đổi và thích nghi với tình hình mới. Như vậy, yêu cầu của cải cách bộ máy bộc lộ trước tiên từ chính những nhận thức bên trong của giới chức lãnh đạo của Trung Quốc dưới sự thúc đẩy của thể chế kinh tế mới.
Sau khi Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, nhiều cán bộ bị gạt ra ngoài trong cách mạng văn hóa (1966-1976) được khôi phục vị trí. Từ năm 1977 đến 1981, số lượng cán bộ và cơ quan chính quyền tăng nhanh chóng. Năm 1981, Chính phủ Trung Quốc với cơ cấu lên tới 100 bộ và cơ quan ngang bộ cùng số lượng thứ trưởng lớn. Chẳng hạn Bộ Công nghiệp luyện kim có tới 19 thứ trưởng [8]. Để hình dung bao quát được sự phức tạp của hệ thống quan liêu Trung Quốc giai đoạn đó có thể thông qua hệ thống số lượng biên chế của toàn hệ thống. Giai đoạn năm 1978, ngay trước cuộc cải cách đầu tiên 1982-1983, số lượng nhân sự của bộ máy nha nước đã là khoảng 15 triệu người. Năm 1997, sau ba đợt cải cách 1982-1983, 1988 và 1993, con số đã lên đến khoảng 33 triệu. Thống kê của học giả khác còn cho thấy tính cả những người nhận một phần lương hoặc lương bổ sung từ bộ máy thì số nhân sự trong biên chế lên tới 40 triệu [9]. Sau này, đến những năm 2000 sau cải cách, con số vẫn còn vượt trên 34 triệu người [10].
Tính theo tỷ lệ dân số, số người được nhận lương làm việc cho hệ thống chính quyền đã tăng từ 1:50 năm 1978 lên khoảng 1:38 năm 2000. Như vậy, cứ 38 người lao động thì có một người là công chức, viên chức nhận lương từ bộ máy nhà nước. Trong tương quan dân số của Trung Quốc thì đó là một tỷ lệ cao và quan liệu hóa cao độ. Vào thời nhà Minh và nhà Thanh, tỷ lệ này chỉ lần lượt chỉ là 1:2.999 và 1:911 [11]. Cùng với tỷ lệ đó thì một hậu quả tất yếu là chi phí hành chính để trả lương cho toàn hệ thống này vận hành là rất cao. Đây cũng được ghi nhận là một trong những nguyên nhân gây ra thâm hụt tài chính mỗi năm của Trung Quốc. Ngân sách hành chính tăng vọt từ 5,5 tỷ nhân dân tệ năm 1979 lên đến 276,8 tỷ nhân dân tệ vào năm 2000 [12]. “Theo thống kê của Bộ Tài chính lúc bấy giờ, chi phí mỗi năm cho bộ máy chính quyền và nhân viên hành chính chiếm tới trên 30% tổng chi phí tài chính. Như vậy vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội sẽ giảm rất mạnh” [13]. Kể cả khi cuộc cải cách đang tiến hành thì khoản tài chính để chính phủ phải phân bổ mỗi năm để trả lương và các chi phí liên quan khác cho những người lao động dư thừa, thất nghiệp do tác động của cuộc cải cách là 20% doanh thu hàng năm (khoảng 200 tỷ Nhân dân tệ) [14]. Cả cơ cấu chính phủ cồng kềnh và số lượng nhân sự hành chính lớn đã làm chi phí tài chính tăng vọt và hệ thống bị kém hiệu quả. Đây là yếu tố tác động quan trọng chính yếu khiến Trung Quốc đưa quyết tâm cải cách lớn nhất năm 1998.
Công cuộc cải cách của Trung Quốc năm 1998 còn hướng tới việc cải cách doanh nghiệp toàn diện, bao gồm những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ. Việc cải cách ở các doanh nghiệp nhà nước thông qua việc sáp nhập và phá sản các doanh nghiệp, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhỏ, kém hiệu quả. “Kết quả là có khoảng 1.000 doanh nghiệp nhà nước lớn được giữ lại” [15]. Cắt giảm số lượng lớn doanh nghiệp nhà nước giúp chính phủ giảm bớt được gánh nặng chi phí tài chính duy trì và tái khởi động lại hiệu suất kinh tế cho hệ thống đoanh nghiệp nhà nước. Cải cách tinh gọn doanh nghiệp nhà nước là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy quá trình cải cách thể chế chính trị của Trung Quốc năm 1998. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của bài viết này, vấn đề cải cách tinh gọn nhân sự của Trung Quốc ở các doanh nghiệp sẽ không được đề cập chi tiết mà chủ yếu tập trung nhiều vào vấn đề cải cách bộ máy chính phủ của chính phủ Trung Quốc.
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 15 của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1997, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân đã nhiều lần nhấn mạnh trọng tâm của vấn đề cải cách là thay đổi chức năng chính phủ. So với trước đó, thông điệp quan trọng này được đưa ra đã định hướng rõ ràng hơn mục tiêu của cuộc cải cách năm 1998. Giang Trạch Dân phát biểu: “Chúng ta phải thay đổi chức năng của Chính phủ để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa… Chúng ta cần cải cách cơ cấu hành chính theo nguyên tắc đơn giản, thống nhất, hiệu quả và xây dựng một cơ chế phối hợp hiệu quả, đồng bộ. , và hệ thống hành chính theo quy định… Chúng ta cần thực hiện pháp quyền trong chức năng, tổ chức, nhân sự và quy trình làm việc của bộ máy nhà nước” [16]. Lý Bằng, Chủ tịch Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX đã nêu rõ hơn hành động của cuộc cải cách cần đạt được: “Điều chỉnh và bãi bỏ các cơ quan chính phủ trực tiếp quản lý các ngành và doanh nghiệp liên quan đến lợi nhuận, tăng cường năng lực quản lý vĩ mô của chính phủ và tăng cường chức năng pháp lý và giám sát của chính phủ” [17]. Định hướng rõ ràng và xác định mục tiêu cần đạt được của cải cách năm 1998 của giới chức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Nhà nước Trung Quốc đã giúp định hình cho cuộc cải cách diễn ra mạnh mẽ và đạt được quy mô rộng lớn. Một nhân tố khác có thể có tác động đến hiệu quả của cuộc cải cách năm 1998 có thể là thủ tướng Quốc vụ viện của Trung Quốc lúc bấy giờ là Thủ tướng Chu Dung Cơ. Ông thể hiện sự mạnh mẽ và quyết liệt trong triển khai chính sách tinh gọn bộ máy của cuộc cải cách. Thủ tướng Chu Dung Cơ từng tuyên bố mạnh mẽ thể hiện quyết tâm cải cách của mình: “Bất chấp phía trước là bãi mìn và vực thẳm, Chu Dung Cơ tôi vẫn tiến lên, việc nghĩa không thể lùi bước” [18].
Rõ ràng, bối cảnh tiền đề của cuộc cải cách năm 1998 của Trung Quốc là tổng hòa nhiều yếu tố tác động mà thành. Tuy nhiên, những vấn đề chính yếu như yêu cầu đặt ra của một thể chế kinh tế mới, sự tốn kém tài chính và hiệu quả thấp của hoạt động chính phủ cùng với sự ủng hộ và định hướng rõ ràng của giới chức lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc đã giúp cuộc cải cách năm 1998 thành công và mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho sự phát triển sau này của Trung Quốc.
1.2. Nội dung chính của cuộc cải cách
Thực hiện theo định hướng chính sách vê một chính phủ đáp ứng được yêu cầu mới của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, mục tiêu trọng tâm của cuộc cải cách 1998 được xác định là xây dựng một khu vực hành chính công tinh gọn, hiệu quả cao có khả năng vận hành hài hòa và đội ngũ nhân sự hành chính có kỹ năng chuyên môn hóa chất lượng cao.
Để thực hiện được mục tiêu lớn này thì một khái niệm then chốt của chương trình cải cách thể chế năm 1998 được đưa ra gọi là “san ding” (ba sửa chữa) [19] hay phương án “ba định” [20]. Khái niệm này gồm ba khía cạnh lần lượt là định chức năng, định cơ cấu rồi đến định biên chế.
Định chức năng là bước đầu tiên với mục tiêu cơ bản cần đạt được là chuyển đổi được chức năng của chính phủ. Thực hiện được chính xác bước này để khắc phục tình trạng chính phủ mạnh về chức năng quản lý mà yếu về chức năng phục vụ. Đẩy nhanh việc xây dựng một chính phủ phục vụ, tách biệt chức năng quản lý trực tiếp các ngành và hoạt động sản xuất kinh doanh lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chính phủ tập trung vào việc điều chỉnh thị trường bằng quản lý vĩ mô, quản lý xã hội và cung cấp các dịch vụ công thiết yếu. Tóm lại, vấn đề là việc chính phủ xác định chức năng cốt lõi nào mà chính phủ và cơ quan các cấp cần giữ và điều chỉnh và chức năng nào cần bãi bỏ và chuyển giao lại cho xã hội.
Định cơ cấu (cố định các cơ quan hành chính) nhằm vào việc cắt giảm cơ cấu tổ chức chồng chéo và mơ hồ về mặt trách nhiệm của bộ máy chính phủ đang bị phình ra bởi nhiều đầu mối khác nhau trùng chức năng, nhiệm vụ. Việc cắt giảm số lượng của các cơ quan nào của chính phủ ở cả cấp trung ương và địa phương thì dựa trên việc xác định chức năng nào được chính phủ xác định giữ lại ở bước định chức năng trước đó. Các đại diện của các chức năng bị cắt giảm hoặc bãi bỏ trong thể chế sẽ được thống nhất ở mọi cấp quản lý khác nhau.
Cuối cùng là định biên chế (cố định số lượng nhân sự). Quy trình này bao gồm việc xác định loại và số lượng chức vụ cần thiết ở các cấp, các cơ quan bộ, ngành để vận hành hài hòa và duy trì được hiệu quả công việc của bộ máy.
Một kế hoạch để thực hiện quy trình được nêu ra thời hạn là ba năm. Khởi đầu từ cấp trung ương vào năm 1998 và sau đó là cấp tỉnh vào năm 1999, kết thúc ở cấp địa phương vào cuối năm 2000. Quá trình triển khai cải cách tuân theo những nguyên tắc mà theo một bài viết của nguyên thứ trưởng Bộ Nguồn nhân lực Trung Quốc Từ Tụng Đào cho rằng có 5 nguyên tắc chính [21]:
Thứ nhất, xác định lại chức năng của chính phủ và tách chính phủ khỏi doanh nghiệp. Đặt ra các nhiệm vụ của chính phủ về quản lý vĩ mô với nền kinh tế quốc dân và cung cấp dịch vụ công.
Thứ hai, tái cơ cấu các tổ chức chính phủ bằng cách tối ưu hóa cơ cấu hành chính, tinh giản biên chế và nâng cao hiệu quả hành chính.
Thứ ba, hợp lý hóa trách nhiệm hành chính và giảm bớt sự chồng chéo về mặt trách nhiệm.
Thứ tư, chỉ đạo cải cách hành chính của các tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.
Thứ năm, thiết lập khuôn khổ pháp lý, thủ tục và tiêu chuẩn hóa công tác quản trị công, trong đó việc tổ chức và lập ngân sách có tính liên ngành.
Các chiến lược cải cách có 3 yếu tố quan trọng: kín, nhanh và hiệu quả. Quyết sách được hoạch định trong các phiên họp kín và thực hiện nhanh chóng ngay khi được quốc hội thông qua. Đây là nhân tố giúp tăng cường tính nhanh chóng và thành công của cuộc cải cách.
Kết quả sơ bộ của cuộc cải cách được ghi nhận là ấn tượng về số lượng và quy mô cắt giảm cơ cấu và nhân sự của bộ máy hành chính. Cũng theo bài viết nêu trên của Từ Tụng Đào, ông ấy đã điểm lại sơ bộ những thành quả như sau:
Thứ nhất, chức năng của chính phủ đã thay đổi. Hơn 280 chức năng trước đây do các cơ quan trung ương đảm nhiệm được trao cho thị trường hay các tổ chức xã hội trung gian khác. Cải cách toàn diện thủ tục kiểm tra, phê duyệt hành chính từ trung ương tới địa phương.
Thứ hai, quản trị nhà nước tách biệt với quản lý doanh nghiệp. Ở trung ương, gần như tất cả các bộ, ban ngành từng trực tiếp quản lý ngành đều bị giải tán, trong đó có 9 bộ và cơ quan ngang bộ.
Thứ ba, thu hẹp quy mô các tổ chức chính phủ bằng cách giảm số lượng bộ, ngành từ 40 xuống 26. Trong các bộ, ban ngành, hơn 200 đơn vị cấp dưới (25%) được cắt giảm. Ở cấp tỉnh, số lượng sở, ngành trung bình giảm từ 55 xuống còn 40 và các bộ phận nội bộ trong sở giảm 20%.
Thứ tư, nhân sự được tinh giản gọn hơn. Ở chính quyền trung ương, số biên chế giảm 50%. Mức giảm trung bình tại chính quyền cấp tỉnh là 48%. Bắt đầu từ năm 2001, việc tái cơ cấu tổ chức và cắt giảm biên chế được thực hiện ở cả chính quyền cấp thành phố, quận và thị trấn, với 20% nhân sự cắt giảm.
1.3. Những vấn đề đặt ra từ cuộc cải cách
Từ các nội dung cơ bản của cuộc cải cách, có thể thấy chủ yếu các vấn đề đặt ra và kinh nghiệm còn có giá trị tham khảo cho cuộc cải cách hiện nay của Việt Nam sẽ tập trung nhiều vào khía cạnh triển khai chính sách tinh gọn để đạt được thành công của mục tiêu cải cách ban đầu đề ra.
Thứ nhất, nhóm vấn đề nhân sự
Học giả Zhiyong Lan đã nêu ra trong một bài nghiên cứu của mình [22] đã nêu ra vấn đề thách thức hàng đầu từ cuộc cải cách 1998 đến từ vấn đề nhân sự. Số lượng công chức, viên chức dư thừa bị loại ra khỏi hệ thống quá nhanh chóng đã gây ra những nỗ lo khủng hoảng và bất ổn xã hội cùng với các loại chi phí vượt mức phải chi trả cho số lượng lớn người lao động này. Đặc biệt, vấn đề nhân sự cấp cao với số lượng lớn cần phải được sắp xếp vị trí phù hợp cho những quan chức chính phủ này. Chưa tính đến số lượng nhân sự hành chính bị thất nghiệp do cải cách doanh nghiệp nhà nước thì số lượng của riêng biên chế trong chính phủ đã rất lớn. “Ba nhóm người, những người mà lợi ích của họ bị hy sinh trong quá trình cải cách, những người cảm thấy cải cách lẽ ra có thể được thực hiện theo những cách tốt hơn hoặc với sự tham gia nhiều hơn của họ, và những người chậm bắt kịp tâm lý cải cách, bao gồm những lực lượng có thể đảo ngược tiến trình cải cách ngay khi có sự cố xảy ra. Trong lịch sử Trung Quốc, các lực lượng khôi phục luôn mạnh mẽ và áp đảo, tồn tại lâu hơn các hành động cải cách nhanh chóng” [23]. Điều này tạo ra các xung đột cơ bản lâu dài giữa các nhóm lợi ích và nhóm người bị tác động bởi cải cách với các nhà triển khai cải cách.
Nhiều biện pháp được đưa ra để giải quyết vấn đề bố trí và giải quyết lượng dư thừa được đưa ra để giảm thiểu các tác động xã hội như cung cấp phúc lợi cơ bản va hỗ trợ đào tạo cho người lao động bị cho thôi việc [24], đưa ra chế độ mới đơn cử như các viên chức cấp cao ở cấp thứ trưởng trở lên trong Quốc vụ viện được phân công làm thanh tra viên đặc biệt sau một thời gian đào tạo. Nhiệm vụ mới của họ là giám sát việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước lớn có mức độ ưu tiên cao. Một chế độ khác giúp người lao động bị sa thải tìm được nghề nghiệp mới bằng cách gửi họ đến trường đại học để lấy bằng cử nhân hoặc thạc sĩ. Ngoài các công việc liên quan đến kinh doanh, tài chính, kế toán và thuế, và các vấn đề pháp lý, những người này cũng đang được tuyển dụng vào “các tổ chức trung gian xã hội”, có vẻ như tham gia vào các hoạt động tư vấn [25],… cùng nhiều cách triển khai hoạt động cải cách khác.
Bên cạnh đó, một khía cạnh khác mà cần cứu chú trọng là vấn đề nâng cao chất lượng chuyên môn hóa đội ngũ quản lý hành chính sau cải cách. Để đạt được một cơ cấu nhân sự toàn diện chất lượng tổng thể phải có sự điều chỉnh cơ cấu tuổi tác, cơ cấu tri thức và cơ cấu chuyên ngành của nhân viên chính quyền và doanh nghiệp, cơ quan và cơ sở, để đạt được tổ hợp tối ưu [26]. Tuy nhiên, các tiêu chí rõ ràng để lựa chọn được nhóm những nhân sự chất lượng cao này còn nhiều vấn đề cần được đặt ra cho khía cạnh định tính này.
Nhóm vấn đề đầu tiên của vấn đề cải cách Trung Quốc có thể thấy là vấn đề cố hữu và thường trực mà bất kỳ cuộc cải cách nào diễn ra đều sẽ gặp phải. Cùng với yêu cầu phải thay đổi để thích ứng với thể chế kinh tế mới thì phải tính đến cả khả năng chịu đựng của xã hội. Rõ ràng, từ cuộc cải cách của Trung Quốc, việc áp dụng nhanh chóng quá mức cũng có những tiềm ẩn bất ổn rất cao nên cần tính toán để có một giai đoạn nhỏ “quá độ” hợp lý để giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực. Nhìn chung, các cải cách thì đều phải hướng tới cơ bản là sự ổn định chính trị trong bộ máy vận hành để không gây xáo trộn và duy trì được các hoạt động bình thường. Việc lựa chọn chính xác những người cần giữ lại trong bộ máy luôn là vấn đề khó khăn trong cải cách. Việc tiếp thu kinh nghiệm và lên phương án phòng ngừa phù hợp sẽ là kinh nghiệm hàng đầu cho Việt Nam để triển khai được thông suốt và ngăn ngừa các lực cản cho cuộc cải cách sắp tới.
Thứ hai, quy trình triển khai trong ba năm
Ba yếu tố quan trọng đã nêu trên của cuộc cải cách: kín, nhanh, hiệu quả, và vấn đề thời gian triển khai của cuộc cải cách được bắt đầu ở cấp trung ương đến địa phương trong ba năm. Điều này cho thấy một lộ trình triển khai khẩn trương và cấp tiến về mặt thời gian nhưng yêu cầu phải đạt được hoàn thành chỉ tiêu cắt giảm và tái cơ cấu trong tổng thể toàn hệ thống. Ở đây, các vấn đề để thực hiện lộ trình này rất phức tạp khi phải có sự nhất trí cao trong nhận thức và hành động ở tất cả các cấp. Sự đồng bộ giữa cấp trung ương và cấp địa phương còn gặp nhiều thách thức. Rõ ràng, sự đồng bộ trong việc cải cách yêu cầu sự thống nhất của chính quyền địa phương phải tuân theo các cơ cấu, sắp xếp tinh gọn đã được Quốc vụ viện cấp trung ương thực hiện để tối đa hóa hiệu quả cải cách. Cắt giảm nhân sự ở địa phương cần được đặt ra tiêu chuẩn phù hợp với tình hình thực tế. Công cuộc cải cách để bắt kịp với lộ trình thời gian được đưa ra cũng yêu cầu tất cả các đơn vị các cấp phải nhanh chóng điều chỉnh hoạt động sau tinh gọn.
Tuy nhiên, ở cuộc cải cách 1998 bộc lộ vấn đề cơ bản là quá trình thực hiện ở cấp độ trung ương rất nhanh chóng và hiệu quả nhưng khi đến các cấp dưới thì khó khăn phát sinh khiến tiến trình bị chậm lại. Như vậy, dù lộ trình thực hiện rõ ràng trên mặt lý thuyết nhưng trong thực tiễn triển khai trong một phạm vi quy mô rộng thì cần có tính toán để thúc đẩy một cơ chế có tính áp dụng rộng khắp cho các cấp đặc biệt là cấp chính quyền cơ sở, cùng với đó là bài toán về mặt thời gian thực hiện hợp lý để bộ máy cơ sở có thể kịp thích ứng và hài hòa cải cách. Tóm lại, việc cải cách nhanh chóng trong thời gian ngắn nhưng mang hiệu quả lâu dài và tích cực về cả số lượng và chất lượng mới được đảm bảo.
Thứ ba, sự ổn định và thống nhất trong các mối quan hệ chính trị tương quan với cải cách
Một vấn đề cơ bản khác của cuộc cải cách đã đạt được mà cần chú trọng xem xét là cách thức xử lý các mối quan hệ chính trị tương quan của cuộc cải cách năm 1998. “So với nửa sau thập niên 1980 khi có cuộc tranh luận rộng rãi về “cải cách chế độ chính trị”, là chương trình cải cách tổ chức hành chính do Thủ tướng Chu Dung Cơ lãnh đạo không nhằm mục đích thay đổi mối quan hệ giữa chính phủ và Đảng, hoặc tách Đảng khỏi chính phủ. Ban lãnh đạo dưới thời Giang Trạch Dân đã coi ổn định chính trị là ưu tiên hàng đầu, và chính quyền rõ ràng đang cố gắng tránh bất kỳ biện pháp nào có khả năng gây ra biến động chính trị dù là nhỏ nhất bằng cách làm xói mòn sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vốn là yếu tố cơ bản của nền quản trị ở Trung Quốc” [27].
Tuy nhiên, một số vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Sự pha trộn giữa các vấn đề của Đảng và chính phủ, và làm giảm hiệu quả khi Đảng xử lý các vấn đề của chính phủ thông qua ủy quyền. Chính quyền đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc làm rõ các lĩnh vực thẩm quyền giữa các bộ và ủy ban của Quốc vụ viện, nhưng không phải giữa Đảng và các tổ chức hành chính.
Cách thức xử lý mối quan hệ cơ bản giữa yếu tố Đảng Cộng sản Trung Quốc duy trì quyền lực và việc cải cách nhân sự cơ bản phần lớn là các đảng viên đặc biệt là quan chức cấp cao đặt ra nhiêu bài học kinh nghiệm. Sự quyết liệt cải cách cần một động lực chính trị đủ lớn và trong trường hợp này nó đến từ quyết tâm chính trị và định hướng chính sách trực tiếp từ hệ thống lãnh đạo chính trị của Trung Quốc là Đảng Cộng sản. Cách thức xử lý khéo léo giữa quan hệ chính trị này không những không làm suy giảm khả năng cầm quyền của đảng mà còn tạo được bối cảnh ổn định va thống nhất vận hành cho toàn hệ thống chính trị.
Hàng loạt các pháp chế của hệ thống tổ chức hành chính được cơ quan lập pháp ban hành để kịp thời đồng bộ và thúc đẩy công cuộc cải cách, tinh gọn bộ máy. “Kiến nghị sửa đổi “Luật tổ chức Quốc vụ viện”, quy phạm hoá theo pháp luật việc bố trí các bộ ngành của Quốc vụ viện. Kiến nghị sửa đổi “Luật tổ chức địa phương” vào thời điểm thích hợp, làm rõ hơn những chuẩn mực về quyền hạn chức trách và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương” [28]. Quy trình lập pháp được thúc đẩy cùng nhịp độ với tiến trình kế hoạch cải cách ba năm tạo thuận lợi nhanh chóng để cải cách đi vào hiệu quả.
Tóm lại, vấn đề ổn định và thống nhất cao của toàn hệ thống chính trị Trung Quốc trong cải cách 1998 để lại nhiều kinh nghiệm cho thấy tính hiệu quả của việc vận hành được toàn bộ máy chính trị trong công cuộc cải cách. Làm rõ được các mối quan hệ giữa bộ máy hành chính và các bộ phận khác của hệ thống chính trị là yêu cầu cần thiết để giải quyết các vấn đề lực cản trong triển khai đồng bộ và hiệu quả việc tinh gọn. Với thể chế chính trị có nhiều nét tương đồng khi ở Việt Nam cũng là chế độ Đảng Cộng sản lãnh đạo, vấn đề hài hòa và vận hành được toàn hệ thống chính trị ủng hộ cho công cuộc cải cách mà vẫn tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản như cải cách 1998 có nhiều giá trị tham khảo thiết thực đặc biệt trong bối cảnh cải cách ở Việt Nam sắp tới.
- Liên hệ với Việt Nam hiện nay
2.1. Bối cảnh tương đồng
Việt Nam đã xác định những định hướng chiến lược phát triển đất nước để chuẩn bị bước vào một giai đoạn gọi là “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Trong đó một trong những nội dung cơ bản được nhận định là công tác tinh gọn bộ máy, hướng tới hiệu lực, hiệu quả [29].
Một phương thức sản xuất mới được hình thành trên cơ sở đặc trưng của sự kết hợp hài hòa giữa con người và Trí tuệ nhân tạo. Mô hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam tích cực định hình trong bối cảnh phương thức số dự kiến có thể có những chuyển biến mới và đặt ra những yêu cầu phát triển mới. Tương ứng với việc đổi mới thể chế kinh tế phải là sự thích ứng và điều chỉnh của thể chế chính trị. Sự thành công của cuộc cải cách bộ máy lần thứ tư của Trung Quốc (1998) là minh chứng rõ nét cho sự thích ứng và vận hành hệ thống tốt hơn của thể chế chính trị đối với những yêu cầu phát triển mới của thể chế kinh tế đặt ra.
Cải cách tinh gọn bộ máy là một chiến lược cũng đồng thời là một tất yếu để giải quyết những vấn đề còn nhiều hạn chế của bộ máy nhân sự hiện nay. Tương tự như trường hợp Trung Quốc trong cuộc cải cách 1998, những vấn đề nhân sự là yếu tố cản trở quá trình thích ứng với thể chế kinh tế mới. Hiện nay, tỷ lệ công chức, viên chức trong biên chế hưởng lương từ Nhà nước vẫn còn lớn là 2,234 triệu người giai đoạn 2022-2026 [30]. Ngân sách dùng để chi trả lương cho bộ máy nhân sự chiếm tới 70% [31]. Nguồn tài chính để chi cho các hạng mục đầu tư phát triển quan trọng và hạng mục khác của đất nước không được phân bổ hợp lý. Cách giảm biên chế và cân đối lại chi phí hành chính là một yếu tố để tạo lực tốt hơn cho công cuộc phát triển giai đoạn mới.
“Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tổ chức các bộ, các cơ quan chuyên môn đa ngành, đa lĩnh vực; giảm hợp lý số lượng các bộ, cơ quan ngang bộ” [32] là nhiệm vụ chính trị được đặt ra với nền hành pháp Việt Nam hiện nay. Với quyết tâm chính trị xuất phát từ định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam, cải cách bộ máy Chính phủ đã là một chủ trương chiến lược để chuyển đổi Chính phủ Việt Nam hướng tới một Chính phủ hiệu quả. Bộ máy quản lý hành chính của Việt Nam với đội ngũ hành chính phục vụ và đáp ứng được yêu cầu của thời đại.
2.2. Khuyến nghị cho Việt Nam
Từ những kinh nghiệm tham khảo của cuộc cải cách lần thứ tư của Trung Quốc (1998), Việt Nam có thể triển khai một loạt các biện pháp cụ thể để tăng cường hơn công cuộc cải cách bộ máy hành chính trong thời gian tới. Dưới đây là một số khuyến nghị trọng tâm:
Thứ nhất, kiên trì cải cách bộ máy
Yếu tố hàng đầu của sự thành công của cuộc cải cách của Trung Quốc vẫn là quyết tâm chính trị xuyên suốt được thống nhất và ổn định trong toàn hệ thống chính trị. Nền quản trị quốc gia với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc ổn định cùng sự thay đổi tư duy kịp thời để thích ứng với thời đại là động lực thúc đẩy cải cách diễn ra nhanh và đạt được quy mô đồng bộ như vậy. Việt Nam với thể chế chính trị tương đồng cần tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc cải cách, tinh gọn bộ máy. Đảng Cộng sản Việt Nam phải giữ vững định hướng, kiên trì với cải cách để tạo nguồn lực mới cho vai trò cầm quyền trong giai đoạn mới.
Cải cách tinh gọn bộ máy sẽ tác động đến nhiều nhóm người, nhóm lợi ích bị tổn hại kể cả các cán bộ, quan chức Chính phủ cấp cao. Tuy nhiên, như quá trình triển khai cải cách của Trung Quốc đã thấy, Việt Nam cần nêu cao tinh thần chấp hành nghiêm kỷ luật chính trị, phục tùng đại cải cách [33]. Cải cách với nhiều lực cản từ nhóm người lợi ích bị tác động cần được xác định rõ ràng để làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, công chức, viên chức đặc biệt là cán bộ quản lý các cấp để giúp cải cách được kéo dài bền bỉ và đạt được hiệu quả cần thiết.
Kiên trì cải cách không dừng lại chỉ ở các định hướng mà phải thể hiện rõ trong cách thức triển khai cải cách. Rõ ràng, sự nhanh chóng và triệt để tháo gỡ các khó khăn trong các khâu tinh gọn bộ máy sẽ có tính lan tỏa hiệu quả đặc biệt là trong tầng lớp nhân dân đại chúng. Kiên trì để trước hết nhân dân ủng hộ sau là các doanh nghiệp đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài thấy được quyết tâm đổi mới nền hành chính phục vụ và hiệu quả. Không gian chính trị ổn định và tích cực như vậy là điều Việt Nam cần hướng tới cho phát triển.
Thứ hai, chuyển đổi chức năng toàn diện
Định hướng đến một nền hành chính phục vụ và hiệu quả là mục tiêu của Chính phủ Việt Nam. Toàn bộ nền hành chính cần dựa trên yêu cầu phục vụ trên thực tiễn của người dân, doanh nghiệp và hạn chế tối đa việc can thiệp trực tiếp đến các hoạt động kinh tế vi mô mà tập trung điều hành vĩ mô nền kinh tế. Thông qua các điều hành đó thì thực hiện quản lý xã hội và tập trung tái phân bổ các gói phúc lợi, an sinh qua các kênh dịch vụ công thiết yếu.
Để đạt mục tiêu đó, trước hết, Chính phủ phải có sự xác định rõ ràng chức năng nào cần thiết để giữ lại hay loại bỏ đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Việc tái cơ cấu số lượng bộ, cơ quan ngang bộ đều cần được xác định lại rõ chức năng, trách nhiệm để từ đó vạch rõ giữa các yếu tố còn bị trùng, mơ hồ. Các đầu mối cần được tích hợp để tránh chồng chéo. Công tác cắt giảm biên chế tuân thủ chặt chẽ theo yêu cầu thực tiễn.
Các cơ chế chuyển đổi cần được tích hợp nhanh chóng và đưa vào thực tiễn. Các chức năng quản lý trực tiếp liên quan đến bộ, ngành kinh tế cũng cần xem xét để cắt giảm để đạt được hiệu quả tinh giản tối đa. Các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước cần có những đổi mới để giảm việc Chính phủ phải điều hành trực tiếp và tinh giản bộ máy nhân sự tại đây.
Thứ ba, quy trình tinh gọn bộ máy rõ ràng, liên tục
Quy trình tinh gọn bộ máy cần có sự rõ ràng và cụ thể nhất là về mặt thời gian và lộ trình cắt giảm biên chế. Chính phủ có thể hướng tới việc triển khai và đưa vào thực tiễn cải cách toàn hệ thống trong thời gian nhanh chóng nhưng phù hợp và đảm bảo hiệu quả. Xây dựng tư duy tinh gọn từng bước rõ ràng, chắc chắn và xác định cải cách bộ máy là xuyên suốt mọi giai đoạn, cấp độ, đưa nhiệm vụ tinh gọn bộ máy thành thường xuyên, định kỳ. Việt Nam có thể đưa ra ra chiến lược tập trung cải cách bộ máy thành các chu trình hẹp nhất định để nhận diện rõ hơn sự biến đổi nhanh chóng của bối cảnh kinh tế và điều chỉnh liên tục cơ cấu và chức năng phục vụ cần thiết của bộ máy [34].
Thứ tư, thống nhất và đồng bộ cải cách
Mục tiêu thứ cấp mà Chính phủ có thể đạt được thông qua tinh gọn bộ máy là sự tăng cường quản lý của cấp trung ương với cấp địa phương. Sự thống nhất và đồng bộ trong cải cách ở đây là việc các cấp địa phương phải nhất trí tuân thủ thống nhất các sắp xếp và tinh gọn của cấp trung ương đã đề ra. Chính phủ cần xem xét các cơ chế để giảm thiểu các bước trung gian giữa các cấp để tinh gọn diễn ra được đồng bộ nhất đặc biệt liên quan đến vấn đề thủ tục hành chính. Nền hành chính đồng bộ cả nước mới đạt được hiệu quả trong vận hành và hướng tới phục vụ toàn diện.
Tổng thể về cơ cấu định tính nhóm nhân sự chính quyền các cấp cần có độ chuyên môn hành chính cao và phù hợp với thực tiễn. Các tiêu chí để lựa chọn, tinh giản biên chế, người lao động cần được xác định rõ ràng và thống nhất để có thể áp dụng với quy mô lớn và đảm bảo mức hiệu quả nhất định. Phúc lợi hỗ trợ đối với nhân sự bị tinh giản có sự nhất trí và phù hợp ở các cấp khác nhau.
Kết luận
Trong cuộc cải cách lần thứ tư của Trung Quốc năm 1998, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân có đưa ra phương châm cải cách là “vừa tích cực, vừa ổn thỏa” nhằm hướng tới một cuộc tinh gọn bộ máy hiệu quả nhưng vẫn giữ vững được nền tảng chính trị ổn định để làm tiền đề và động lực cho phát triển. Các yếu tố bối cảnh mới như thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa liên tục đòi hỏi sự đổi mới của thể chế chính trị. Các vấn đề nội tại phát sinh như thâm hụt tài chính nghiêm trọng và độ cồng kềnh của bộ máy khiến năng suất làm việc của Chính phủ bị trì trệ khiến vấn đề cải cách không thể ngừng. Chính sách tinh gọn luôn được định hướng rõ ràng là những thành tố cơ bản để khiến cuộc cải cách lần thứ tư của Trung Quốc đạt được những thành tựu trên cả quy mô và tác động sâu rộng mang tính định hình cho những năm sau đó.
Tuy nhiên, cuộc cải cách lần thứ tư này cũng còn nhiều vấn đề cần đặt ra và đến nay vẫn còn giá trị tham khảo và suy ngẫm. Bằng những kinh nghiệm trong việc triển khai cải cách ấy, Việt Nam cần tiếp thu và điều chỉnh để phù hợp với tình hình của Việt Nam. Trước những thách thức của cuộc cải cách trong thời gian tới, các vấn đề cơ bản được nhìn nhận ra từ cuộc cải cách Trung Quốc như vấn đề nhân sự tinh gọn, chuyển đổi chức năng Chính phủ hay quy trình cải cách vẫn là những vấn đề trọng tâm mà Việt Nam phải lưu ý. Với cách tiếp cận quyết liệt trong chính sách nhưng khéo léo trong áp dụng, Việt Nam hoàn toàn có thể thành công với tinh gọn bộ máy, xây dựng một Chính phủ hiệu lực, hiệu quả, sẵn sàng cho thế và lực bước vào “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Tài liệu tham khảo
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), “Nghị quyết số 10-NQ/HNTW ngày 26/11/1990, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về phương hướng chỉ đạo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 1991”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-vi/nghi-quyet-so-10-nqhntw-ngay-26111990-hoi-nghi-lan-thu-muoi-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vi-ve-phuong-huong-chi-dao-ke-1114, truy cập ngày 12/1/2025.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2023), “Tinh giản biên chế và những con số biết nói!”, https://dangcongsan.vn/cung-ban-luan/tinh-gian-bien-che-va-nhung-con-so-biet-noi-633170.html, truy cập ngày 12/1/2025.
[3] Xem thêm: Tô Lâm (2024), “Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Tinh – Gọn – Mạnh – Hiệu năng – Hiệu lực – Hiệu quả”, https://baochinhphu.vn/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-tinh-gon-manh-hieu-nang-hieu-luc-hieu-qua-102241105172459096.htm, truy cập ngày 12/1/2025.
[4] Xem thêm: Hà Phương (2024), “Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; tình hình kinh tế – xã hội và tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế”, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1009802/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet%2C-trien-khai-tong-ket-viec-thuc-hien-nghi-quyet-so-18-nq-tw%3B-tinh-hinh-kinh-te—xa-hoi-va-thao-go-nhung-diem-nghen%2C-nut-that-ve-the-che.aspx, truy cập cập ngày 12/1/2025.
[5] Nguyễn Vinh Quang (2024), “Cuộc cải cách bộ máy “xoay chuyển tình hình nội bộ Trung Quốc”, https://vov.vn/chinh-tri/cuoc-cai-cach-bo-may-xoay-chuyen-tinh-hinh-noi-bo-trung-quoc-post1139815.vov, truy cập ngày 10/1/2025.
[6] Nguyễn Vinh Quang (2024), tlđd.
[7] Shigeo Kobayashi, Jia Baobo, & Junya Sano (1999), “The “Three Reforms” in China: Progress and Outlook”, https://www.jri.co.jp/english/periodical/rim/1999/RIMe199904threereforms/, truy cập ngày 10/1/2025.
[8] Nguyễn Thành Trung (2024), “Trung Quốc đã cải cách bộ máy như thế nào?”, https://cuoituan.tuoitre.vn/trung-quoc-da-cai-cach-bo-may-nhu-the-nao-20241213115640831.htm, truy cập ngày 10/1/2025.
[9] Zhao Libo (1998), The Administrative Reform of the Government, Shangdong People’s Press, Shangdong, p.71.
[10] National Bureau of Statistics of the People’s Republic of China (2001), China statisical yearbook, China Statistical Publishing House, Beijing, p. 119.
[11] Erik Brødsgaard Kjeld (2002), “Institutional Reform and the Bianzhi System in China”, The China Quarterly, Vol 170, pp. 361–368, p. 365, https://doi.org/https://doi.org/10.1017/s0009443902000232
[12] National Bureau of Statistics of the People’s Republic of China (2001), China statisical yearbook, China Statistical Publishing House, Beijing, p. 251.
[13] Nguyễn Vinh Quang (2024), tlđd.
[14] He Ruohang (1998), “The Prelude of the Jiang Zeming and Zhu Rongji’s “New Deal”, Mingpao, pp.61–62.
[15] Nguyễn Thành Trung (2024), tldd.
[16] Jiang Zeming (1997), “Report on the 15th National Conference of the Communist Party”.
[17] Li Peng (1998) “Report on Government Work to the Ninth People’s Congress”, People’s Daily.
[18] Zhu Rongji (1998), “Press speech during the first preliminary session of the Ninth People’s Con- gress”, The People’s Daily.
[19] Zhu Rongji (1998), Zai guowuyuan di yici quanti huiyishang de jianghua
(“Speech to the First Full Session of the State Council”), in book: Guowuyuan bangongting mishuju and Zhongyang jigou bianzhi weiyuanhui bangongshi zongheju (eds.), Zhongyang zhengfu zuzhi jigou 1998 (Central Government Institutions and Organs 1998), Gaige chubanshe, Beijing, pp. 5-6.
[20] Nguyễn Vinh Quang (2024), tlđd.
[21] Nguyễn Thành Trung (2024), tldd.
[22] Lan Zhiyong (1999), “The 1998 Administrative Reform in China: Issues, Challenges and Prospects”, Asian Journal of Public Administration, Vol 21, No 1, pp. 29–54, https://doi.org/10.1080/02598272.1999.10800358.
[23] Lan Zhiyong (1999), “The 1998 Administrative Reform in China: Issues, Challenges and Prospects”, Asian Journal of Public Administration, Vol 21, No 1, pp. 29–54, p. 39 https://doi.org/10.1080/02598272.1999.10800358.
[24] Nguyễn Thành Trung (2024), tldd.
[25] Li Peng (1998), tldd.
[26] Nguyễn Vinh Quang (2024), tlđd.
[27] Shigeo Kobayashi (1999), tldd.
[28] Nguyễn Vinh Quang (2024), tlđd.
[29] Tô Lâm (2024), “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-vie, truy cập ngày 15/1/2025.
[30] Phạm Đông (2022), “Tổng biên chế toàn hệ thống chính trị giai đoạn 2022-2026 là 2,234 triệu”, https://laodong.vn/thoi-su/tong-bien-che-toan-he-thong-chinh-tri-giai-doan-2022-2026-la-2234-trieu-1074757.ldo, truy cập ngày 16/1/2025.
[31] Tô Lâm (2024), tđd.
[32] Đảng Cộng sản Việt Nam (2022), “Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-27-nqtw-ngay-09112022-hoi-nghi-lan-thu-sau-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-ve-tiep-tuc-xay-dung-va-9016, truy cập ngày 16/1/2025.
[33] Nguyễn Vinh Quang (2024), tlđd.
[34] Cải cách bộ máy của Trung Quốc sẽ diễn ra khoảng 5 năm 1 lần và cuộc cải cách thứ tư năm 1998 đã có kế thừa và phát huy được kinh nghiệm của các cuộc cải cách 1982-1983, 1988, 1993 trước đó, kết hợp với yêu cầu phát triển của bối cảnh mới mà hình thành sự biến đổi.
0 Thảo luận Khoa học