- Giới thiệu
Cách mạng Tháng Mười Nga đã đúc kết một chân lý: “rằng muốn làm cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc” [4, tr. 304]. Đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để khẳng định “công nông là gốc của cách mạng” nhưng chữ “dân” trong Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh mang nội hàm bao quát hơn, nhấn mạnh tính dân tộc trong đó “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiêu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác” [9, tr. 264]. Hồ Chí Minh bám sát vào thực tiễn của xã hội Việt Nam để xây dựng nên tư tưởng chính trị của mình. Tư tưởng gần dân, hiểu dân, thương dân, vì dân mà làm việc, lấy dân làm gốc, làm chủ thể trung tâm để phát triển và làm mục tiêu tối thượng là sợi dây liên kết xuyên suốt cả cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh luôn theo đuổi.
- Lấy “dân” làm gốc
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua thời kì Pháp thuộc với sự thất bại của các phong trào yêu nước lớn, liên tiếp các cuộc đấu tranh của nhân dân bị dập tắt. Lúc này, đời sống của người dân đặc biệt là tầng lớp bị trị càng gặp khó khăn do Pháp bóc lột, áp bức. Đường lối cứu nước được các nhà cách mạng như Phan Bội Châu hay Phan Chu Trinh đề xướng đều không thành. Nhu cầu về một đường lối giải phóng dân tộc mới được đặt ra, nguyện vọng cơ bản của nhân dân về một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc được bộc lộ. Nhìn thấy và thấu hiểu nỗi đau đồng bào mình, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã được thôi thúc ra đi tìm đường cứu nước. Như vậy, ngay mới bắt đầu, chưa biết đến chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã sẵn sàng dấn thân vào sự nghiệp giải phóng dân tộc mình xét đến nguyên nhân cũng vì thương dân và xuất phát điểm là lấy nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân làm lí do hành động.
Tiếp theo, dân luôn là nguồn lực lớn mà Hồ Chí Minh tin tưởng dựa vào. Hồ Chí Minh khẳng định rằng nhân dân là thứ quý giá nhất trong cả bầu trời này cũng là thứ mạnh nhất khi lực lượng nhân dân cùng nhau đoàn kết lại [11, tr. 453] nên luôn tin tưởng vào trí tuệ và lực lượng vô cùng vô tận của nhân dân [13, tr. 283]. Tin vào dân, mới có thể mượn được sức mạnh của nhân dân để làm cách mạng. Niềm tin của nhân dân là cơ sở của hệ thống chính trị Việt Nam. Dân là nguồn lực tự nhiên cho tất cả mọi lĩnh vực.
Những người dân lao động mới chính là những người chủ tập thể của của tất cả sản phẩm vật chất và tinh thần của xã hội [14, tr. 66]. Lực lượng nhân dân tạo ra của cải vật chất cho xã hội vận hành, cho sự thắng lợi của cách mạng. Nguồn nhân lực đông đảo của nhân dân là lực lượng quần chúng then chốt để đấu tranh, và quan trọng là nguồn nhân lực này luôn sẵn sàng vì quốc gia mà hy sinh. Cùng với lực lượng vũ trang của quân đội thì lực lượng chính trị của quần chúng, sức mạnh của đấu tranh chính trị ở khắp mọi nơi chính là nguyên nhân trực tiếp để Hồ Chí Minh lãnh đạo giành chính quyền từ đế quốc và tay sai một cách áp đảo và nhanh chóng.
Bước vào thời kì kháng chiến kiến quốc toàn diện thì Hồ Chí Minh xác định nhân dân là nguồn lực chính để lao động sản xuất và chiến đấu bảo vệ quốc gia. Có cơ sở gốc là lòng tin ở nơi dân nên Hồ Chí Minh mới có thể phát động được lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, cuộc chiến được hậu phương nhân dân hỗ trợ lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị, hậu cần, sức người, sức của. Minh chứng rõ ràng cho điều này là thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, với lời hiệu triệu “Tất cả cho mặt trận”, “Tất cả để chiến thắng”, nhân dân vừa tích cực đóng thuế, bán thực phẩm, vừa cho vay, ủng hộ để cung cấp tiếp tế cho bộ đội và tích cực tham gia dân công phục vụ chiến dịch với hơn 23.000 tấn gạo, 266 tấn muối, gần 2.000 tấn thực phẩm, cùng gần 21.000 xe đạp thồ, gần 1.000 con ngựa thồ, hơn 3.000 chiếc thuyền và hơn 261.400 lượt dân công với 12 triệu ngày công [17, tr. 305-306]. Riêng nhân dân Tây Bắc đã cung cấp 47% nhu cầu gạo, 43% thịt, 100% rau tươi, thuyền và ngựa thồ [18, tr. 131].
Dân là nguồn lực lao động để cải biến tự nhiên, cải biến xã hội, là bản chất chung của con người nên “lao động là sức chính của sự tiến bộ loài người” [6, tr. 514]. Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò lao động của người dân, quý trọng và tin yêu sức lao động của con người Việt Nam là nền tảng cho xây dựng Tổ quốc, dân tộc hạnh phúc, ấm no. Vì vậy, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức sử dụng lao động khoa học, góp phần tiết kiệm sức lao động và nâng cao đời sống sức khỏe cho nhân dân, “phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta” [14, tr. 70].
Sự sáng tạo, trí lực của dân luôn được Hồ Chí Minh khẳng định là “vô cùng vô tận”, yêu cầu đặt ra là làm sao để khai thác được nó cho phù hợp để ích nước lợi dân nhất. Nhân dân là những người sinh ra trong đời sống thực tiễn nên họ có rất nhiều sáng kiến quý báu phục vụ thiết thực cho quyền lợi của bản thân [9, tr. 48], và đặc biệt là là họ giải quyết được những khó khăn của cuộc sống rất đơn giản và nhanh chóng mà đến chính quyền, đoàn thể không sao giải quyết được [6, tr. 335]. Xuất thân từ một gia đình có truyền thống tri thức, Hồ Chí Minh thấu hiểu sâu sắc nguồn trí lực dồi dào ở khắp mọi nơi, khắp mọi tầng lớp nhân dân. Việc vận dụng nó thành công cho công cuộc cách mạng, để tất cả người dân tập trung vào một mục tiêu thống nhất là yếu tố hàng đầu của thắng lợi. Khi mới xây dựng chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, thì phần đông tham chính lúc đó đều là các học giả tri thức lớn thậm chí là các quan chức xưa của triều đình phong kiến Huế. Sau đó, Hồ Chí Minh liên tục mời về nước được những nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài dưới ngọn cờ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Khi mới giành độc lập thì phổ biến là nhân dân không được biết chữ nên gây ra sự hạn chế nhất định, vì vậy Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác giáo dục, xóa nạn mù chữ để nhân dân phát huy tối đa được cái gốc trí tuệ vốn có của mình. Việc Hồ Chí Minh tận dụng nguồn trí lực, nhân tài của đất nước để xây dựng lại đất nước là minh chứng rõ ràng cho thấy Hồ Chí Minh quý trọng nguồn trí lực của dân, tin tưởng vào trí tuệ của dân tộc Việt Nam.
Nguồn tài lực, vật lực của nhân dân ta đóng góp cho cách mạng, cho công cuộc xây dựng Tổ quốc là không thể đếm hết được. Hồ Chí Minh vận dụng được tối đa nguồn lực của dân đặc biệt trong những ngày đầu khó khăn của cuộc kháng chiến. Quỹ độc lập hay Tuần lễ vàng là hai trong nhiều phong trào tiêu biểu mà Hồ Chí Minh lúc bấy giờ phát động được để nhân dân ta phát huy được nguồn lực sẵn có trong xã hội. Vì xác định được sâu sắc nội hàm của chữ “dân” này nên Hồ Chí Minh đã khéo léo tranh thủ được các nhà tư sản dân tộc lớn lúc bấy giờ như cụ Trịnh Văn Bô để đóng góp cho tài chính của nền độc lập. Đây là là một bài học quan trọng của việc vận dụng tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh để phát huy được hết nguồn lực của mọi tầng lớp, giai cấp trong nhân dân.
Lấy dân làm gốc vì gốc ấy là điểm tựa cho động lực cách mạng tiến bước và chỉ cần được hội tụ sẽ thành một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ. Trong mọi thời kì, Hồ Chí Minh luôn thấm nhuần tinh thần yêu nước, phẩm chất cao quý của con người Việt Nam. Trong Báo cáo về Bắc kì, Trung kì và Nam kì, Hồ Chí Minh khi viết về chủ nghĩa dân tộc, về động lực của cách mạng đã khẳng định động lực lớn của đất nước là chủ nghĩa dân tộc, tình yêu nước của nhân dân đã giúp cho những số phận thấp kém như những người cu li biết nổi dậy, hay những nhà buôn của Việt Nam đi cạnh tranh ngầm với Pháp và Trung Quốc cũng như các cuộc khởi nghĩa, phong trào của các nhà cách mạng, của vua Duy Tân sau này [4, tr. 511]. Sự rõ ràng đó được bồi đắp qua ngàn năm lịch sử của dân tộc để hình thành nên chủ nghĩa dân tộc vô sản chân chính của nhân dân Việt Nam và để rồi mỗi khi đất nước Việt Nam bị ngoại bang xâm chiếm thì tinh thần yêu nước ấy lại kết thành một làn sóng mãnh liệt để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân bất chấp hiểm nguy, gian khó. [8, tr. 38].
Lấy dân làm gốc là lấy từ dân mọi điều để biến nó thành sức mạnh, thành động lực để bồi đắp, xây dựng nên một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc thuộc về nhân dân. Như vậy, lấy dân làm gốc đã là điểm tựa cho tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh xuất phát và tiền đề để giành thắng lợi: “Nước lấy dân làm gốc … Gốc có vững, cây mới bền/Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [6, tr. 501-502].
- Dân là chủ thể trung tâm
Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị thế của dân trong xuyên suốt cuộc đời và sự nghiệp chính trị của mình, đưa nhân dân lên vị thế làm chủ thực sự của quốc gia. Con người ấy làm hoạt động thực tiễn cách mạng đều hướng tới việc mang lại hạnh phúc đích thực cho người dân, xoay quanh chủ thể chính trị trung tâm này. Hồ Chí Minh từng phát biểu khẳng định rằng: “chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là dân làm chủ” [8, tr. 434], và “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [14, tr. 83]. Nhận định này là phản ánh những quan niệm cơ bản nhất của Hồ Chí Minh về dân chủ. Trong một tác phẩm, Hồ Chí Minh cũng tái khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân đối với chính quyền khi cho rằng: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ…” [9, tr. 263-264].
Dân làm chủ ở đây phải hiểu là làm chủ thực sự đất nước, làm chủ nhân chân chính của vận mệnh mình. Quan điểm đã được Hồ Chí Minh đưa ra nhiều lần rằng “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” [13, tr. 672]. Sự nghiệp cách mạng thành hay bại do nhân dân quyết định tất cả. Nhà nước mới được thành lập có vững bền cũng do dân quyết định tất cả. Đảng và Chính phủ đều do dân quyết định mà có. Cơ bản dù là đảng viên hay công chức, viên chức nhà nước thì trước đó đều là dân, và được trưởng thành và phát triển trong quần chúng nhân dân mà thành. Nên mọi mệnh lệnh, quyết định của nhân dân đều là tuyệt đối, phải được tuân thủ, giữ gìn. Đảng và Chính phủ được dân cử ra làm người đại diện của mình để thi hành những quyết định đó và có nghĩa vụ gìn giữ mọi mệnh lệnh từ người làm chủ là dân.
Nhân dân là chủ thể trung tâm, là người sáng tạo và thực thi quyền lực chính trị chân chính. Mọi quyền hành chính trị đều do dân ủy quyền cho Nhà nước thừa hành và luôn thể hiện quyền làm chủ của mình ở mọi lúc, mọi nơi. Dân làm chủ nên dân có quyền giám sát, bầu cử, thể hiện ý chí, mong muốn của mình trên cả lí luận và thực tiễn. Quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế đã là vấn đề ưu tiên hàng đầu khi Chính phủ lâm thời được thành lập: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…” [5, tr. 7]. Trên thực tiễn ngay sau đó một năm, cuộc tổng tuyển cử cho toàn dân đã được tổ chức. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đã đánh dấu bước phát triển đầu tiên của nền móng dân chủ nước Việt Nam và cũng chứng minh cho thấy dân đã ở vị thế làm chủ thực sự của vận mệnh mình, đưa ra lựa chọn người đại diện cho mình để tiến hành phát triển đất nước.
Dân làm chủ tất cả đồng thời dân cũng là chủ của tất cả. Dân là chủ ở đây phải hiểu là dân là chủ của mọi quyền hành nhưng cũng là chủ xuyên suốt quá trình vận dụng của quyền hành đó cũng như kết quả của nó. Hồ Chí Minh đã minh định rõ vị trí của những người cán bộ, đảng viên với câu hỏi: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì?” và câu trả lời là “Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân” [11, tr. 572]. Để làm rõ hơn thì Hồ Chí Minh có giải thích rằng các cơ quan chính quyền của Việt Nam từ cấp trung ương đến tận các làng các xã thì đều công bộc của nhân dân do nhân dân bầu ra để thay mình gánh lấy các việc chung chứ không phải để là của dân rồi bóc lột, đàn áp như chế độ chính trị cũ của đế quốc cai trị [4, tr. 64-65].
Nhân dân còn là chủ thể đóng vai trò trung tâm của việc vận hành chính trị. Giống như việc quản trị một hệ thống tổ chức, với người đứng đầu là dân và người phục tùng là Đảng và Chính phủ, người đứng đầu đó muốn tổ chức của mình phát triển không chỉ có dựa vào người thừa hành phục tùng nỗ lực ra sức. Đó còn là trách nhiệm của một người đứng đầu hợp cách khi phải thường xuyên phát huy được vị thế là chủ của mình để xem xét, đánh giá các hành động của người phục tùng có đang phù hợp để kịp thời thay thế; nhanh chóng bày tỏ ý kiến của mình để người thừa hành hiểu và thực hiện. Người phục tùng mệnh lệnh của tổ chức cũng không phải chỉ là máy móc, dập khuôn mà phải liên tục phản hồi, bàn bạc với người đứng đầu để đưa ra được quyết sách phát triển đúng đắn nhất.
Đối ứng điều này với vận hành chính trị thì Hồ Chí Minh đề cao quyền là chủ quyết định của dân, yêu cầu Đảng và Chính phủ phải tạo điều kiện cho dân “dùng quyền làm chủ của mình, dám nói, dám làm” [15, tr. 293], bàn bạc kĩ càng với dân mọi vấn dề đang diễn ra, xin ý kiến của dân về những vấn đề đó để dân đồng thuận và chấp nhận thực thi [6, tr. 334] nhưng đồng thời phải tỉnh táo chứ không được máy móc tuân thủ ý kiến của dân, nhắm mắt theo đuôi nhân dân bất chấp đó là gì [6, tr. 337]. Trách nhiệm là chủ của dân phải thể hiện ở nghĩa vụ của mình với Tổ quốc, với việc chung của dân tộc. Khi đất nước gặp khó khăn phải ra sức mà giúp đỡ, mà chỉnh đốn, cách mạng là cuộc cách mạng toàn dân, khởi nghĩa toàn dân bao gồm mọi tầng lớp vì đâu cũng là chủ. Đóng góp ý kiến của mình với hành động của Đảng và Chính phủ để kịp thời chấn chỉnh và ngăn ngừa tiêu cực, sai lầm. Mọi điều mà pháp luật không cấm mà có lợi cho sự nghiệp chung thì dân với tư cách là chủ thực sự thì phải mạnh dạn thực hiện để thống nhất với Đảng và Nhà nước đưa ra quyết sách chính xác cho phát triển đất nước. Hồ Chí Minh khẳng định chế độ xã hội của Việt Nam là chế độ dân chủ và phục vụ lợi ích toàn dân, tạo điều kiện tối đa để nhân dân thực hiện quyền làm chủ và là chủ của mình. Vì vậy, để làm cho nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh thì nhân dân phải tận lực hết mình để làm tròn nhiệm vụ người chủ nhân chân chính [13, tr. 377]. Có như vậy, bộ máy vận hành chính trị mới thực sự hoạt động hiệu quả và trơn tru, dân mới chứng tỏ được mình là người chủ xứng đáng và có trách nhiệm.
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh với trọng tâm xoay quanh một chủ thể duy nhất là dân. Mọi quyền hành chính trị, lực lượng chính trị đều là của dân và do dân mà thành. Ý kiến, nguyện vọng chính đáng của dân phải được Đảng và Chính phủ kịp thời xem xét và đáp ứng nó. Dân với Hồ Chí Minh là người chủ thực sự của đất nước, chủ thể hợp pháp trên cả lí luận và thực tiễn với điều đầu tiên Hiến pháp 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất chính trị của nước Việt Nam và cơ sở để xác định chủ thể chính trị trung tâm nhất của nước Việt Nam luôn là dân. Hồ Chí Minh đã đúc kết rõ ràng tư tưởng của mình: “Nước ta là nước dân chủ/ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân/ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân/ Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân/ Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân/ Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra/ Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên/ Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [7, tr. 232].
- Dân là mục tiêu cao nhất
Hồ Chí Minh đã vạch ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, đó là con đường đi từ Độc lập dân tộc đến chủ nghĩa xã hội, giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, để nhân dân Việt nam trở thành chủ nhân thực sự của đất nước. Nhìn nhận trên quan điểm vĩ mô về đường lối cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác định được mục tiêu cao nhất của cuộc cách mạng Việt Nam chính là nhân dân Việt Nam. Trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh thì nhân dân là điểm đầu xuất phát của mọi suy nghĩ và hành động cũng như là điểm cuối cùng của tất cả. Đi tìm con đường chính trị mới để về làm cách mạng giải phóng dân tộc mình khỏi áp bức và bóc lột nhưng đó vẫn chỉ là giai đoạn trong tiến trình lớn hơn là sự phát triển của đời sống nhân dân Việt Nam hướng tới ấm no, hạnh phúc. Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng mọi dân tộc đều có quyền bình đẳng, trong đó bao gồm quyền được sống, quyền được hưởng hạnh phúc và quyền tự do, như tinh thần của bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945. Cách mạng ở mục tiêu cao nhất của nó là mang lại hạnh phúc cho toàn dân, chống lại được sự tha hóa và biến chất của những quyền cơ bản đó của nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh dù có độc lập và tự do mà dân vẫn không được hưởng hạnh phúc, vẫn phải chết rét, chết đói thì cái độc lập hay tự do mà cách mạng mang lại cũng không có tác dụng gì [5, tr. 64, 175]. Rõ ràng hạnh phúc cho mỗi người dân là lí tưởng then chốt mà Hồ Chí Minh luôn theo đuổi.
Hồ Chí Minh đã chọn con đường đi lên xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa chi tiết chủ nghĩa xã hội là gì nhưng tổng quát qua các phát biểu, tác phẩm của mình thì Hồ Chí Minh luôn gắn chặt chủ nghĩa xã hội với nhân dân: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội” [11, tr. 591]. Với Hồ Chí Minh thì hình ảnh đất nước Việt Nam hùng mạnh, nhân dân Việt Nam giàu đủ vậy đã là chủ nghĩa xã hội [11, tr. 890]. Bản chất của chế độ chính trị được Hồ Chí Minh xác định mang tính ưu việt vượt trội chính vì nó gắn chặt với mục tiêu nhân dân làm đầu và phục vụ lợi ích của toàn dân làm cốt lõi.
Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần phê bình và tự phê bình trong Đảng nhằm giúp nó tự chỉnh đốn, sửa chữa khuyết điểm, tập trung vào được lợi mục tiêu lợi ích của dân: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm trong nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân” [15,tr. 616]. Những căn bệnh như quan liêu, tham ô hủ bại, mọi khuyết điểm mà người cán bộ, đảng viên có thể mắc phải Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng căn nguyên của nó là vì chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa vụ lợi cá nhân bị lên án vì theo Hồ Chí Minh thì bản chất của nó là lấy của dân làm lợi cho mình, mục tiêu hành động của người cán bộ, đảng viên lúc này là chính bản thân họ chứ không còn là dân nữa. “Nó trói buộc, bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho chính mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân” [12, tr. 611].
Trách nhiệm của Đảng và Chính phủ là phục vụ mục tiêu chung của toàn dân, vì lợi ích của toàn dân: “Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng” [6, tr. 330] phải đem tất cả những thứ thuộc về dân bao gồm cả của cải, vật chất, tài năng, sức lực của nhân dân trở lại nơi dân [6, tr. 75]. Với Hồ Chí Minh thì mọi chính sách của đảng và Chính phủ phải tập trung vì mục tiêu là lợi ích của dân, chăm lo đến cuộc sống của nhân dân, thậm chí mọi sai lầm phát sinh đối với dân cũng đều là lỗi của ảng và Chính phủ [10, tr. 518]. Nhân dân luôn được Hồ Chí Minh nhấn mạnh xuyên suốt chỉ đạo mọi quan điểm, đường lối, chính sách cho Đảng và Chính phủ, kiến tạo một hệ thống chính trị vì dân mà cống hiến.
Cuối cùng, tiếp cận tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh trong một tổng thể bao quát thì Hồ Chí Minh là “một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận” với một ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [5, tr. 187]. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh luôn chỉ có một mục tiêu thống nhất là dành cho đất nước độc lập, cho nhân dân hạnh phúc dù có phải đi vào chốn lao tù, núi rừng hiểm nguy đêm ngày cũng chỉ vì mục tiêu đó mà cố gắng tiếp tục cống hiến hết sức mình [5, tr. 272]. Như vậy, nhìn vào tầm vĩ mô quan điểm chiến lược của Hồ Chí Minh thì suy nghĩ và hành động luôn phản ánh thống nhất mong muốn phấn đấu cho một mục tiêu trọng tâm nhất là nhân dân.
5. Kết luận
Trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, sự nghiệp chính trị nói riêng, sự nghiệp cách mạng nói chung của dân tộc đều do nhân dân mà được khởi xướng, do nhân dân thực hiện mà diễn ra, do nhân dân ra sức mà thắng lợi. Dân trong lí luận và hành động của Hồ Chí Minh luôn chứng minh được vị thế của một chủ thể chính trị trung tâm nhất và xuyên suốt đồng bộ. Khởi phát từ nhu cầu được giải phóng dân khỏi ách nô lệ mà Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước đến tận khi hết cuộc đời thì Hồ Chí Minh luôn chứng minh quan điểm đó là rõ ràng và thống nhất. Mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam luôn là mục tiêu mà Hồ Chí Minh theo đuổi để khẳng định lợi ích đích thực của toàn dân. Nhân dân là điểm kết nối của tất cả các quan điểm tư tưởng chính trị trong Hồ Chí Minh. Tóm lại, khái quát “dân” trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh có thể trích lời nhận định của học giả Geetesh Sharman về Hồ Chí Minh như sau: “Nhân dân luôn là tâm điểm của quá trình tư tưởng Hồ Chí Minh và sự quan tâm của Người đối với nhân dân không bị giới hạn trong các ranh giới địa lý. Mục đích của Người không chỉ là giải phóng đất nước mình khỏi sự thống trị ngoại bang mà trong chiều sâu tư tưởng của mình, bên cạnh mục đích giành độc lập dân tộc, Người còn mong ước đến sự công bằng, bình đẳng và no ấm cho nhân dân mình” [2, tr. 412-413].
Tài liệu tham khảo
- Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, 2010, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 412- 413.
- Bùi Trường Giang, 2020, Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và yêu cầu củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Cộng sản.
- Trần Duy Giang, 2019, Hậu phương, hậu cần trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và vấn đề đặt ra hiện nay, Tạp chí Quốc phòng toàn dân.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.2, tr. 304, 511.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H,, t.4, tr.7, 64-65, 175, 187, 272.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.5, tr. 75, 330, 334-335, 337, 501-502, 514.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.6, tr.232.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t7, tr.38, 434.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.8, tr.48, 263-264.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.9, tr.518.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.10, tr.453, 572, 591, 890.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.11, tr.611.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.12, tr.283, 377, 415, 672.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.13, tr.66, 70, 83.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2011, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., t.15, tr.293, 616.
- Học viên Chính trị quốc gia Sự thật – Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng – Tỉnh ủy Nghệ An, 2020, Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ tổ quốc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, 1993, t.1, Nxb. Quân đội Nhân dân, H., tr. 305 – 306.
- Tổng kết Công tác hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ, 1979, Nxb. Quân đội Nhân dân, H., tr. 131.
- Trần Thị Minh Tuyết, 2021, Học tập tư tưởng lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh, Tạp chí Tuyên giáo.
- Hồng Thế Vinh, 2023, Tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài học trong xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ hiện nay, Tạp chí Cộng sản
Cảm ơn bài viết sâu sắc của tác giả Tiến Đạt :))