1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và tiến trình phát triển của nhân loại. Thế giới đang trải qua một giai đoạn lịch sử phức tạp, đầy biến động. Chuyển dịch quyền lực, những thay đổi về cấu trúc và trật tự thế giới mang tính hệ thống, các quốc gia đang vận hành trong một trật tự thế giới không còn đơn cực nhưng cũng không hẳn là đa cực như hiện nay, việc nghiên cứu về cách thức vận hành của thể chế, các quan điểm và lĩnh vực chính trị là điều cốt yếu.
Văn hóa chính trị là mục tiêu, đường lối, chiến lược phát triển của một quốc gia, nghiên cứu văn hóa chính trị nhằm hoạch định chính sách, củng cố và xây dựng kiến trúc thượng tầng của quốc gia, đặt nền móng cho sự phát triển lâu dài và vững chắc cho các thế hệ mai sau. Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc giữ gìn, bảo tồn văn hóa chính trị của quốc gia để tránh hòa tan với các giá trị bên ngoài là một trong những ưu tiên hàng đầu. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ XIII khẳng định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội”, nghiên cứu văn hóa, đặc biệt là văn hóa chính trị là một trong những yêu cầu của thực tiễn trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là quan điểm, tư tưởng về văn hóa chính trị của các học giả phương Tây.
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn như trên, tôi quyết định chọn đề tài “Quan niệm của các học giả phương Tây về văn hóa chính trị” làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần cung cấp thêm cơ sở lý thuyết, góc nhìn về văn hóa chính trị và vai trò của văn hóa chính trị đối với sự phát triển của quốc gia.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề nghiên cứu về văn hóa chính trị tại Việt Nam tuy không còn mới mẻ, số lượng các công trình nghiên cứu khá đồ sộ. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu thường tập trung vào quan điểm văn hóa chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, nghiên cứu thực trạng văn hóa chính trị, những bài nghiên cứu về lý luận văn hóa chính trị của các học giả phương Tây còn rất hạn chế, nếu có cũng chỉ được đề cập đến một phần nhỏ trong các bài báo, sách chuyên khảo hay tạp chí chuyên ngành.
Theo khảo sát sơ bộ, các nguồn tài liệu của nghiên cứu này đến chủ yếu từ các đề tài luận văn, luận án, các trang báo, sách, tạp chí ngoại văn chuyên ngành từ các nước phương Tây.
Ở phạm vi trong nước, các đề tài nghiên cứu về quan điểm của các học giả phương Tây về văn hóa chính trị chưa nhiều, các công trình nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ, tiến sĩ chưa có. Vấn đề lý luận về quan điểm của các học giả phương tây về văn hóa chính trị ít được các học giả quan tâm, phần lớn chỉ được nhắc đến trong các đề tài liên quan đến chính trị phương Tây. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn thiếu những bài viết công phu, hệ thống về những vấn đề của lý luận văn hóa chính trị, đặc biệt là phân tích quan điểm của các học giả phương Tây dưới góc nhìn của phân tích văn hóa chính trị.
Ở phạm vi quốc tế, trên thế giới đã có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đề cập một cách tương đối toàn diện về vấn đề này. Một số công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài có thể kể đến như: “The civic culture: Political attitudes and democracy in five nations” của tác giả Almond và Verba, “Political Socialization” của tác giả Dawson và Prewitt. Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết, công trình nghiên cứu trên các tạp chí có uy tín của các học giả khác. Tất cả các công trình đã cung cấp góc nhìn khái quát và khá đầy đủ về văn hóa chính trị cũng như vai trò của văn hóa chính trị trong lịch sử hình thành và phát triển của các quốc gia phương Tây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm rõ quan niệm của các học giả phương Tây về văn hóa chính trị.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, làm rõ nội hàm khái niệm “văn hóa chính trị”.
Thứ hai, Phân tích quan điểm về văn hóa chính trị của các học giả phương Tây.
Thứ ba, phân tích các biểu hiện của văn hóa chính trị.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thuật ngữ “văn hóa chính trị”
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung luận giải các quan điểm tiêu biểu của học giả phương Tây về văn hóa chính trị từ thời cổ đại cho đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, bài nghiên cứu vận dụng phương pháp nghiên cứu logic – lịch sử làm khung lý luận cơ bản. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội như phương pháp hệ thống, thống kê, phân tích – tổng hợp và các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm khác.
6. Kết cấu của đề tài
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nói trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu gồm 3 chương, cụ thể là:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về văn hóa chính trị: Chương này đề cập đến cơ sở hình thành thuật ngữ văn hóa chính trị.
Chương 2: Quan niệm của các học giả phương Tây về văn hóa chính trị: Chương này đề cập đến quan điểm của các học giả phương Tây về văn hóa chính trị theo hai giai đoạn, cổ – trung đại và cận – hiện đại.
Chương 3: Biểu hiện của văn hóa chính trị: Chương này trình bày về các biểu hiện chính của văn hóa chính trị trong cấu trúc của một xã hội chính trị cơ bản.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
1.1 Khái niệm văn hóa
Thuật ngữ “văn hóa” đã có từ lâu đời và đa nghĩa. Ban đầu nó bắt nguồn từ thuật ngữ “trồng trọt” trong “nông nghiệp”, Triết gia Cicero của thời kỳ La Mã cổ đại đã sử dụng “Cultura Mentis” theo nghĩa bóng để ám chỉ triết học. Trong nhiều thế kỷ, “Cultura Mentis: có nghĩa là sản xuất hoặc phát triển một cái gì đó, chẳng hạn như “văn hóa lúa mạch” hay “văn hóa nghệ thuật”, và vẫn được sử dụng theo nghĩa này như trong “văn hóa vi khuẩn”. Chỉ ở Pháp vào thế kỷ 18, thuật ngữ văn hóa mới bắt đầu được sử dụng và mang ý nghĩa rèn luyện hoặc trau chuốt trí óc hoặc sở thích. Nó nhanh chóng được mở rộng để chỉ những phẩm chất của một người có học thức và vẫn giữ ý nghĩa đó cho đến ngày nay.
Ở Anh, vào nửa sau thế kỷ 19, nhà văn Matthew Arnold cũng có quan điểm tương tự, mô tả văn hóa là “sự làm quen với những điều tốt đẹp nhất từng được biết đến và nói ra trên thế giới cùng với lịch sử của tinh thần con người”. Cùng lúc đó, nhà nhân chủng học Edward Tylor bắt đầu định nghĩa của mình một cách nổi tiếng bằng những từ ”Văn hóa, hay văn minh… là một tổng thể phức tạp bao gồm kiến thức, niềm tin, [v.v.] và bất kỳ năng lực nào khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”.
Hai nhà nhân chủng học người Mỹ Kroeber và Kluckhohn đã định nghĩa rằng “Văn hóa bao gồm các mô hình hành vi, cả rõ ràng và tiềm ẩn, được thu nhận và truyền tải qua các biểu tượng, tạo nên thành quả đặc biệt của các nhóm người, bao gồm cả hiện thân của họ trong các di vật. Cốt lõi của văn hóa là những ý tưởng truyền thống (nghĩa là được hình thành và lựa chọn theo lịch sử) và đặc biệt là những giá trị gắn liền với chúng. Hệ thống văn hóa, một mặt, có thể được coi là sản phẩm của hành động, mặt khác, là yếu tố quy định cho những hành động tiếp theo”.
Theo quan điểm của hai học giả Wan và Chiu dựa trên góc độ tiếp cận của đồng thuận liên chủ thể đối với văn hóa, hai ông cho rằng “văn hóa bao gồm các yếu tố mang tính biểu tượng mà các thành viên của một nền văn hóa thường tin là quan trọng hoặc đặc trưng của nền văn hóa”.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) cho rằng “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.”
Nhìn chung về khái niệm văn hóa, có rất nhiều những quan điểm và định nghĩa khác nhau, những định nghĩa thiên về lịch sử sẽ nhấn mạnh vào quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên tính ổn định của văn hóa. Còn những định nghĩa chuẩn mực thì lại hướng đến các quan niệm về giá trị văn hóa. Tóm lại, khái niệm “văn hóa” là không thể thiếu, tuy nhiên khó có cách nào có thể thoát khỏi được nhận định của Alfred Lang rằng “những nỗ lực định nghĩa văn hóa theo một cách xác định là vô ích” vì văn hóa không phải là một hiện tượng dễ dàng định nghĩa, mà ngay chính thuật ngữ “văn hóa” cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống của con người, tùy từng trường hợp cụ thể lại có những định nghĩa khác nhau.
1.2 Khái niệm chính trị
Cũng giống như văn hóa, chính trị là một phạm trù phức tạp với rất nhiều quan điểm và tư tưởng khác nhau, chính vì thế mà cho đến nay thuật ngữ “chính trị” vẫn tồn tại nhiều cách định nghĩa.
Một quan điểm phổ biến trên thế giới cho rằng chính trị thuộc lĩnh vực “quyền lực”, Karl Marx là một trong những đại diện tiêu biểu cho quan điểm này. Ông cho rằng chính trị liên quan đến quyền lực và vấn đề là ở chỗ quyền lực không được phân phối đồng đều giữa các tầng lớp xã hội khác nhau. Đối với Marx, chính trị là xấu xa, không tốt đẹp. Để có được cuộc sống tốt đẹp hơn, chúng ta phải “tiến tới thủ tiêu tất cả mọi giai cấp và tiến tới một xã hội không giai cấp”.
Một quan điểm khác về chính trị, đồng ý với Marx ở một điểm, cũng là của một học già người Đức tên là Max Weber khi ông cũng cho rằng chính trị thuộc lĩnh vực “quyền lực” (power) và “nhà nước” (state). Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa họ là ở chỗ, Max Weber không cho rằng chính trị có thể được loại bỏ ra khòi đời sống con người. Chính trị và nhà nước chắc chắn không phải là điều hoàn hào, nhưng người ta vẫn cần đến chúng. Theo quan điểm của Weber, chính trị là quá trình để giành lấy quyền lực và ảnh hưởng lên việc phân phối quyền lực giữa các thành phần trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia. Xung đột và đấu tranh giai cấp chi là một phần cùa quá trình này.
Quan điểm thứ ba có liên quan chặt chẽ đến học thuyết của Weber là của học giả người Canada, nhưng sống và làm việc tại Mỹ, tên là David Easton (1917-2014) khi cho rằng chính trị là sự phân phối có thẩm quyền các giá trị. Khái niệm này được sừ dụng khá phổ biển ở Mỹ và các nước phương Tây. Nó tạo ra khuynh hướng nghiên cứu chính trị tập trung vào nhà nước, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm và hoạt động cùa chính phủ, các chính đàng, các cơ quan nhà nước như bộ máy hành chính, quân đội, cảnh sát và các cá nhân hoạt động trong bộ máy chính trị đó.
Nhìn chung, chính trị là một thuật ngữ có nội hàm rộng, đa dạng, tuy nhiên có thể nhìn nhận rằng quan niệm về chính trị của các học giả phương Tây tập trung vào phạm trù “quyền lực”, trong đó, chính trị là quá trình giành, giữ và thực thi quyền lực, là công cụ để tầng lớp cầm quyền phân bổ các giá trị xã hội và gây ảnh hướng lên các chủ thể chính trị khác.
1.3 Khái niệm văn hóa chính trị
Trong khoa học chính trị có một xu hướng coi văn hóa chính trị như một trong những điểm nhấn đặc biệt. Phần lớn mọi người đều mơ hồ biết đến sự tồn tại của nó, nhưng hiếm khi họ bình luận về nó, và càng ít người bận tâm rằng văn hóa chính trị là gì? Văn hóa chính trị có nguồn gốc từ đâu? Văn hóa chính trị xuất hiện như là một điều thứ yếu, một hiện tượng làm phong phú thêm sự hiểu biết của chúng ta về đời sống chính trị, mặc dù nhiều nghiên cứu về văn hóa chính trị đã được thực hiện, tuy nhiên khái niệm về nó vẫn đang là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong quan điểm của các học giả phương Đông và phương Tây.
Hai hệ thống lý thuyết lớn là chủ nghĩa Marx (Marxsim) và chủ nghĩa chức năng (Funcitonal-ism) nghiên cứu về văn hóa chính trị đều cho rằng văn hóa phụ thuộc vào các lực lượng vật chất hoặc mang tính hệ thống.
Học giả Almond và Verba đã nhận định rằng “mối quan hệ giữa văn hóa chính trị và cấu trúc chính trị [là] một trong những khía cạnh đáng nghiên cứu nhất của vấn đề ổn định chính trị và thay đổi chính trị”, có thể thấy rằng, với quan điểm này văn hóa chính trị được cho là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự ổn định của chính trị, trật tự và duy trì của chính trị trong mọi chính thể đã và đang hiện hữu. Gabriel Almond thường được ghi nhận là người đã đưa khái niệm “văn hóa chính trị” vào nghiên cứu chính trị trong tác phẩm So sánh các hệ thống chính trị (Comparative Political Systems), xuất bản năm 1956, và hầu hết các cuộc thảo luận, nghiên cứu gần đây đều đề cập đến quan điểm của ông. Trong tác phẩm đó, Almond nói rằng Parsons đã cung cấp cơ sở cho cách tiếp cận của ông và ông định nghĩa “văn hóa chính trị là “các mô hình định hướng hành động chính trị” và các định hướng là “thái độ đối với chính trị”.
Với quan niệm coi văn hóa chính trị như là một hiện tượng chính trị, Dawson và Prewitt cho rằng “văn hóa chính trị, được khái niệm hóa một cách đại khái, là mô hình phân bổ định hướng của các thành viên trong một cộng đồng chính trị đối với nền chính trị đó”. Hai học giả này không định nghĩa “định hướng” là gì, tuy nhiên có thể nhìn nhận rằng họ đang sử dụng thuật ngữ này nhằm đề cập đến tất cả các cách mà mỗi cá nhân có thể xem xét, đánh giá nền chính trị, nghĩa là nói đến khả năng nhận thức (tri thức, kiến thức), ảnh hưởng (cảm xúc và thái độ) và đánh giá (giá trị và chuẩn mực) mà qua đó một người có thể liên hệ chính bản thân với các đối tượng của xã hội đó.
Theo quan điểm của Lucian Pye và Sidney Verba “Văn hóa chính trị là một hệ thống các niềm tin mang tính kinh nghiệm, những biểu tượng chuyển tải các ý nghĩa và các giá trị định hình nên môi trường trong đó các hành động chính trị diễn ra”.
Nhìn chung, văn hóa chính trị có thể được hiểu là khái niệm dùng để chỉ những giá trị được sáng tạo ra trong lĩnh vực hoạt động chính trị. Là sản phẩm của con người trong các hoạt động thực tiễn của nền chính trị, tồn tại dưới dạng kiến trúc thượng tầng xã hội và mang đặc trưng của giai cấp cầm quyền, văn hóa chính trị của giai đoạn lịch sử nào thì sẽ bị chế định bởi giai đoạn lịch sử đó.
CHƯƠNG 2
QUAN NIỆM CỦA CÁC HỌC GIẢ PHƯƠNG TÂY VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
2.1 Quan niệm của các học giả cổ – trung đại
Văn hóa chính trị là phạm trù được các nhà tư tưởng bàn đến từ rất sớm. Ở phương Tây, từ thời cổ đại cho đến thời đại khai sáng, vấn đề “văn hóa chính trị” được nghiên cứu như đối tượng của Triết học, thuật ngữ “văn hóa chính trị” có trong tác phẩm Nền cộng hòa (The Republic) của Plato (428 – 328 TCN), Chính trị luận (The Politic) của Aristole (384 – 322 TCN).
Trong học thuyết của mình, Palto đề cập đến văn hóa chính trị bắt nguồn từ những ý tưởng triết học của ông về mô hình nhà nước lý tưởng và bản chất của công lý. Thứ nhất, ông phê phán nền dân chủ, thông qua Socrates trong tác phẩm Nền cộng hòa ông đã chỉ trích nền dân chủ vì sự tự do quá mức của nó và mối nguy hiểm tiềm tàng mà nó gây ra khi cho phép những cá nhân ích kỷ chỉ quan tâm đến ham muốn cá nhân của họ nhằm mục đích đạt được quyền lực. Thứ hai, Plato đề xuất một tầng lớp quý tộc được cai trị bởi các vị vua-triết gia, những người không chỉ khôn ngoan mà còn có đạo đức và vị tha, những người cai trị này sống đơn giản và mang tính cộng đồng để chống tham nhũng. Thứ ba, Plato phác thảo một thành bang lý tưởng được gọi là “Kallipolis” trong Nền cộng hòa, ông tin rằng trật tự chính trị tốt nhất, hợp lý và đúng đắn sẽ dẫn đến sự thống nhất hài hòa trong xã hội, cho phép mỗi bộ phận phát triển mà không làm tổn hại đến bộ phận khác. Nhìn một cách tổng thể, có thể thấy rằng, trong quan niệm của Platon văn hóa chính trị nhấn mạnh đến một xã hội hài hòa, được lãnh đạo bởi các vị vua-triết gia, nhấn mạnh vào đức hạnh, trí tuệ của người đứng đầu.
Kế thừa và phát huy những tư tưởng của Plato, cách nhìn của Aristole cũng dựa trên những ý tưởng triết học của ông về nhà nước lý tưởng, bản chất của công lý cùng với vai trò của công dân. Thứ nhất, Aristole đề cao các giá trị về đạo đức, trong các tác phẩm “Đạo đức Nicomachean” và “Chính trị luận”, Aristotle mô tả cuộc sống hạnh phúc dành cho con người theo tự nhiên là cuộc sống tuân theo đạo đức. Ông cũng mô tả vai trò mà chính trị và cộng đồng chính trị phải đóng góp để mang lại cuộc sống đạo đức trong công dân. Thứ hai, Aristotle tin rằng công dân phải tham gia tích cực vào chính trị nếu họ muốn hạnh phúc và đạo đức. Ông khẳng định rằng con người về bản chất là những động vật chính trị và chỉ thông qua sự tham gia làm công dân trong cộng đồng chính trị, hoặc polis, do nhà nước cung cấp mà con người có thể đạt được lợi ích chung của an ninh cộng đồng. Thứ ba, ông đề cao vấn đề bình đẳng là quyền lực, Aristotle đã tìm cách chứng minh rằng tất cả những tuyên bố của một số giai cấp nhất định trong xã hội về sự chia sẻ không đồng đều về chức vụ và quyền lực do họ có ưu thế hơn ở một khía cạnh nào đó đều có thể bị bác bỏ. Tóm lại, văn hóa chính trị của Aristotle được đặc trưng bởi sự đề cao đạo đức, sự tham gia tích cực của công dân, sự bình đẳng trong việc đạt được một cộng đồng chính trị lý tưởng.
2.2 Quan niệm của các học giả cận – hiện đại
Các quan niệm có liên quan tới văn hóa chính trị được biết đến nhiều hơn đối với người phương Tây trong một số công trình nghiên cửu của các nhà tư tưởng nổi tiếng, như John Locke, Denis Diderot, Montesquieu, Jean Jacques Rousseou… Văn hóa chính trị lần đầu tiên được biết đến trong tác phẩm Tư tưởng triết học lịch sừ của loài người (1784 – 1791) của I.G.Gerzer, khi văn hóa chính trị được nghiên cứu trong mối quan hệ với tư tưởng, dư luận xã hội, tâm lý cá nhân và tính cách dân tộc. Điển hình cho việc nghiên cứu văn hóa chính trị ở phương Tây, chúng ta hay lấy trường hợp Alexis de Tocqueville, khi ông nghiên cứu về văn hóa chính trị Mỹ để tìm câu trả lời cho những thành công của nước Mỹ, ông đã đưa ra những khái quát về các giá trị văn hóa chính trị Mỹ.
Một trong những học giả tiêu biểu của thời kỳ này là Tocqueville khi ông cho rằng văn hóa chính trị là một ý tưởng cốt lõi của nền chính trị. Trong phần đầu tác phẩm Nền dân trị Mỹ ông đã viết “Để xã hội có thể tồn tại và, nói cách khác, một xã hội có thể thịnh vượng, điều cần thiết là tâm trí của tất cả các công dân phải được tập hợp và gắn kết với nhau bởi những ý tưởng chiếm ưu thế nhất định; và điều này không thể xảy ra trừ khi mỗi người trong số họ đôi khi đưa ra ý kiến của mình từ nguồn thông tin chung và đồng ý chấp nhận một số vấn đề về niềm tin đã được hình thành”. Với quan điểm này, Tocqueville đã gợi ý cho các nhà nghiên cứu sau này rằng xã hội được hình thành trong sự tương tác giữa các niềm tin, từ đó truyền cảm hứng cho các nghiên cứu về văn hóa chính trị sau này. Do vậy mà Aaron Wildavsky đã lập luận rằng chính văn hóa tạo ra sở thích của con người và chính những điều này lại thúc đẩy quá trình chính trị.
Một trong những quan điểm có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất thời hiện đại là quan điểm của hai học giả Almond và Verba trong tác phẩm Văn hóa Công dân (The Civic Culture- 1963) khi hai ông cho rằng văn hóa chính trị là khuynh hướng tâm lý của các cá nhân, là thái độ của công dân đối với hệ thống chính trị và các tiểu bộ phận cấu thành nó, cũng như thái độ đối với vai trò của bản thân trong hệ thống chính trị. Những thái độ này mang lại ba định hướng: (i) nhận thức, (ii) tình cảm và (iii) đánh giá của cá nhân về hệ thống chính trị. Qua đó có thể thấy rằng, quan điểm của Almond và Verba về văn hóa chính trị là tập hợp trạng thái tâm lý của cá nhân được thể hiện thông qua những đánh giá, khảo sát. Almond và Verba cho rằng hệ thống chính trị của một quốc gia bao gồm văn hóa chính trị của quốc gia đó và việc duy trì hoặc thay đổi hệ thống đó có mối liên hệ mật thiết với văn hóa của chính quốc gia đó, văn hóa chính trị được coi là sự giao thoa và xúc tác cho các sự thay đổi trong hệ thống chính trị, hiểu một cách đơn giản, văn hóa chính trị tạo thành bối cảnh hoặc môi trường cho các hành động chính trị.
Mặt khác, các nhà phê bình như Pateman và Barry cho rằng văn hóa chính trị nên được coi là kết quả chứ không phải nguyên nhân của các quá trình chính trị. Barry gợi ý rằng “văn hóa chính trị” chỉ bao gồm “những kỳ vọng hợp lý được hình thành dựa trên kinh nghiệm chung” của hệ thống hiện tại. Rõ ràng, nếu cách giải thích này đúng, ông lập luận, “không có cơ sở nào để nói rằng mối tương quan nảy sinh từ sự thuận lợi của “văn hóa công dân” đối với “dân chủ”, mà đúng hơn là từ kết luận không mấy thú vị rằng “dân chủ” tạo ra “văn hóa công dân”.
Một quan điểm toàn diện hơn so với các quan điểm trước đó của David Robertson khi ông đã mô tả văn hóa chính trị là “tổng thể các ý tưởng và thái độ đối với quyền lực, kỷ luật, trách nhiệm và quyền lợi của chính phủ”. Theo cách hiểu tương tự, Richard Rose cho rằng văn hóa chính trị là “các giá trị niềm tin và cảm xúc” được coi là đương nhiên, “tạo thành văn hóa và mang lại ý nghĩa cho chính trị”.23
Đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều luồng quan điểm khác nhau về văn hóa chính trị của các học giả phương Tây giai đoạn cận – hiện đại, tuy nhiên phần lớn các quan điểm đều phản ánh đến hai khía cạnh khi xem xét về văn hóa chính trị. Đầu tiên là xem xét văn hóa chính trị như một quá trình văn hóa được thể chế hóa. Thứ hai, văn hóa chính trị được coi là trung gian, là điểm giao thoa giữa các yếu tố của ý thức xã hội (niềm tin, trí thức,…). Văn hóa chính trị không chỉ tồn tại trong một không gian thanh tao nào đó, văn hóa chính trị phải được nảy sinh trong lòng các xã hội dân sự và được tiêu thụ như một sản phẩm về tinh thần.
CHƯƠNG 3
BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
3.1 Văn hóa bầu cử
Trong trật tự chính trị của mỗi quốc gia, các cuộc bầu cử được coi là cấu trúc xoay quanh việc tái tạo hoặc đôi khi là xác lập lại các mối quan hệ quyền lực, giai cấp và cơ cấu xã hội. Hình thức bầu cử đã xuất hiện từ lâu, trước khi nền dân chủ tồn tại nhằm xoa dịu thực tế về sự bất bình đẳng đáng kể trong quan hệ quyền lực như ở Athens và Rome cổ đại.
Nhìn nhận văn hóa bầu cử dưới góc độ chính trị, có thể thấy rằng đây là công cụ để các giai cấp, tầng lớp xã hội thực hiện việc giành địa vị cầm quyền, lãnh đạo xã hội. Bởi trung tâm của khái niệm “chính trị” xoay quanh việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước.
Ở phương Tây, nước Anh là một trong số quốc gia đi đầu trong xu hướng nghiên cứu về văn hóa bầu cử. Tiếp theo đó là Đức, các nhà khoa học Đức đã nghiên cứu văn hóa vận động bầu cử từ đó đánh giá mức độ “Mỹ hóa” ở châu Âu thời hậu chiến. Đồng thời, dưới sự ảnh hưởng của lịch sử chính trị đã khuyến khích các học giả Mỹ tập trung vào các khía cạnh hình thức của hoạt động vận động bầu cử ở Mỹ cho đến ngày nay. Có thể khẳng định rằng, các cuộc bầu cử rất quan trọng đối với hầu hết các xã hội, nó đại diện cho ý chí và nguyện vọng của công chúng, uy tín và trách nhiệm của những người lãnh đạo. Trong văn hóa chính trị phương Tây, bầu cử không chỉ đơn giản việc bầu ra người lãnh đạo có đủ năng lực và mang lại lợi ích phù hợp với nguyện vọng của công chúng mà nó còn là một hình thức kiểm tra dũng khí của “tầng lớp chính trị” khi chỉ có một số ít người có thể gia nhập vào tầng lớp này. Đồng thời văn hóa bầu cử tồn tại không chỉ mang tính biểu tượng mà nó còn phản ánh sự hòa hợp của xã hội, là cơ hội để buộc những người tham gia vào tầng lớp chính trị phải chịu trách nhiệm với vận mệnh của đất nước dù chỉ là thoáng qua.
3.2 Văn hóa cầm quyền
Phương Tây bao gồm các quốc gia có nhiều nét tương đồng trong kiến trúc thượng tầng xã hội, chính vì vậy các giá trị phương Tây thường mang những nét đặc trưng chung trong văn hóa cầm quyền, thể hiện ở một số phương diện như: Thứ nhất, chính phủ các nước phương Tây vận hành theo nguyên tắc chính phủ dân chủ, nơi mà quyền lực được trao cho người dân thông qua bầu cử, thể hiện rõ nét trong văn hóa bầu cử ở các nước phương Tây. Thứ hai, một đặc điểm nổi bật trong văn hóa cầm quyền của phương Tây là đề cao nhân quyền, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền được cho là xương sống, phạm trù trung tâm của các chính thể ở phương Tây. Thứ ba, chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây được coi trọng, trong xã hội phương Tây, các giá trị cá nhân được được ưu tiên, quyền lợi và tự do của cá nhân thường được ưu tiên hơn so với tập thể, trái ngược với văn hóa cầm quyền của các nước phương Đông.
Như đã khẳng định, văn hóa chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, mà văn hóa cầm quyền lại là một phần trong văn hóa chính trị, do đó nó cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố như tôn giáo, pháp luật, đạo đức…vv Có thể thấy, văn hóa cầm quyền của các nước phương Tây có những nét tương đồng nhất định. Tuy nhiên, cũng có những điểm khác biệt giữa các nước, tùy thuộc vào lịch sử, văn hóa, và thể chế chính trị của mỗi nước.
3.3 Văn hóa giám sát, phản biện
Quyền lực là vũ khí sắc bén vì lợi ích của nhà nước và công dân, đồng thời cũng là tai họa cho đất nước và nhân dân. Giám sát và kiềm chế quyền lực là mục tiêu chung của quản trị nhà nước hiện đại. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều có hệ thống giám sát quyền lực của riêng mình, trong đó hệ thống giám sát quyền lực của các nước phương Tây, dẫn đầu là Châu Âu và Hoa Kỳ có thể cho là tương tối hiệu quả.
Sự phát triển lịch sử của các nước phương Tây, có thể chia thành hai giai đoạn. Đầu tiên là từ xã hội Hy Lạp – La Mã cổ đại đến xã hội phong kiến Tây Âu, đang trong giai đoạn tiến hóa trở thành “trung tâm của Tây Âu” của xã hội tư bản hiện đại. Giai đoạn thứ hai là quá trình thuộc địa hóa toàn cầu của chủ nghĩa tư bản, cuối cùng dẫn đến sự hợp nhất của Tây Âu và Bắc Mỹ. Các nước phương Tây có mối liên hệ chặt chẽ về mặt lịch sử và văn hóa. “Mặc dù văn hóa chính trị của các quốc gia khác nhau rất khác nhau sau khi phát triển, nhưng truyền thống chính trị và văn hóa của họ là tương đồng và không đồng nhất, và tất cả đều bắt nguồn từ văn hóa thành phố-nhà nước nô lệ”.
Hệ thống giám sát quyền lực của phương Tây nói chung là kiểu giám sát theo chiều ngang. Hình thức giám sát theo chiều ngang đề cập đến sự phân cấp theo chiều ngang và kiểm tra, cân bằng các chủ thể quyền lực, tức là quyền lực được chia thành nhiều thành phần khác nhau và được giao cho các chủ thể chính trị khác nhau thực hiện. Mỗi chủ thể chính trị đều độc lập, bình đẳng về địa vị, kiểm tra, cân bằng quyền lực thông qua sự giám sát lẫn nhau. Trong thời kỳ chính trị của các thành bang Hy Lạp cổ đại, chủ nghĩa đa văn hóa đã bước vào vũ đài chính trị. Trong số đó, Aristotle chia chức năng hoạt động của nhà nước thành chức năng lập pháp, chức năng tư pháp và chức năng hành chính, quyền lực nhà nước được thực hiện bởi hội đồng, hội đồng và tòa sơ thẩm của công dân, đây là cơ sở của lý thuyết phân chia quyền lực của phương Tây.
Montesquieu, một nhà tư tưởng và luật gia thời Khai sáng người Pháp, đã chỉ ra cách đây hơn hai trăm năm: “Một điều chắc chắn là tất cả những người có quyền lực đều có xu hướng lạm dụng quyền lực”. Người có quyền lực sẽ sử dụng quyền lực của mình cho đến khi gặp giới hạn. Theo quan điểm của Montesquieu, ngay cả trong một nhà nước chính trị dân chủ, một khi quyền lực được tập trung quá mức, vượt quá tầm kiểm soát của nhân dân thì quyền lực nhà nước xuất phát từ quần chúng nhân dân sẽ chuyển thành một chính quyền độc tài, áp bức nhân dân. Những bài học lịch sử của chế độ chuyên chế đen tối thời Trung cổ đã khiến các nhà tư tưởng phương Tây nhận thức rất sâu sắc về quyền lực. “Quyền lực mà không có sự giám sát và kiềm chế là thuốc độc, quyền lực càng lớn thì càng độc hại và tai hại càng lớn”. Quyền lực phải phục vụ công chúng dưới sự giám sát và kiềm chế, và tất cả quyền lực tuyệt đối phải được loại bỏ.
Điểm khởi đầu của hệ thống giám sát quyền lực nhà nước phương Tây là ngăn chặn quyền lực nhà nước dẫn đến độc tài và tham nhũng, ngăn chặn một số ít người sử dụng quyền lực để thực hiện chế độ độc tài chuyên chế và số đông sử dụng quyền lực tuyệt đối để thực hiện chuyên chế. Trong hệ thống quốc gia, cần thực hiện việc phân chia quyền lực giữa các quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp để ngăn chặn sự tập trung quyền lực quá mức. Quyền hành pháp là trọng tâm của việc giám sát quyền lực vì nó có nhiều nguồn lực hành chính nhất. “Quyền lực của lãnh sự không phải là quyền lực tự nhiên, mà là quyền lực của công dân, và khi nó phát sinh một cách độc lập, nó sẽ bị coi là hành vi chiếm đoạt và chuyên quyền các quyền dân sự.” Sử dụng các quyền tư pháp và lập pháp để hạn chế và cân bằng quyền hành pháp, sử dụng quyền tự do báo chí để giám sát quyền lực nhà nước, khuyến khích công dân và các tổ chức xã hội tham gia vận hành quyền lực nhà nước và thực hiện nhiều biện pháp để đảm bảo rằng các nhà quản lý thực thi quyền lực nhà nước. quyền lực phù hợp với nguyện vọng của người dân, đồng thời ngăn chặn sự xuất hiện của các “chuyên chế” như các chế độ độc tài và chuyên chính cá nhân.
Tóm lại văn hóa giám sát và phản biện là công cụ để kiểm soát và vận hành cơ thể chính trị nhằm không cho nó đi lệch hướng so với những mục tiêu đã đề ra, là công cụ để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình đồng thời cũng là phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước.
KẾT LUẬN
Chưa có định nghĩa thống nhất nào về thuật ngữ “văn hóa chính trị”, tuy nhiên có thể thấy rằng văn hóa chính trị trong quan niệm của các học giả phương Tây xoay quanh ý thức, thái độ của người dân đối với hệ thống chính trị. Văn hóa chính trị của mỗi quốc gia chịu sự chi phối của văn hóa – lịch sử xã hội của quốc gia đó, văn hóa phương Tây được định hình phần lớn bởi nền văn minh Hy Lạp – La Mã cổ đại, đo đó văn hóa chính trị nói riêng và kiến trúc thượng tầng xã hội phương Tây nói chung ít nhiều đều đề cao tính cá nhân, tự do trong đó.
Quan sát ba biểu hiện của văn hóa chính trị phương Tây có thể thấy rằng tính cá nhân được thể hiện tương đối rõ nét so với văn hóa chính trị phương Đông. Trong văn hóa bầu cử, chỉ riêng ở Anh, tỷ lệ bầu cử có năm chỉ đạt 57,2%, con số này không chỉ phản ánh riêng thực trạng văn hóa chính trị bầu cử ở Anh mà còn là tình trạng chung của các nước phương Tây, khi mà người dân dần dần quen thuộc với sự thay đổi trong hệ thống chính trị. Văn hóa cầm quyền thể hiện rõ nét nhất trong các biểu hiện của văn hóa chính trị phương Tây, mỗi một nhiệm kỳ nguyên thủ quốc gia được định hình bằng những chính sách khác nhau, biểu hiện rõ ràng thông qua cách chính sách, quyết định mang tính cá nhân.
Nhìn chung, văn hóa chính trị không phải là thuật ngữ mới lạ, vừa xuất hiện mà mầm mống về thuật ngữ này đã được hình thành từ lâu. Như Marx đã nhận định con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, do đó mà ở xã hội phương Đông hay phương Tây thì con người vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nền chính trị, là chủ thể bất biến của các quan hệ chính trị. Con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của văn hóa chính trị, con người quy định cách văn hóa chính trị hình thành và hoạt động nhưng cũng đồng thời chịu ảnh hưởng trở lại bởi văn hóa chính trị.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
- C.Mác, Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập, tập II, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.662.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng”, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 356 – 357.
- Nguyễn Thị Thanh Dung (2023). Các nghiên cứu văn hóa chính trị hiện nay, Tạp chí Khoa học Chính trị, số 03/2023, tr.45-51.
- Trần Ngọc Quân (2020), Quan hệ Mỹ – Trung qua cách tiếp cận của các chủ thể chịu ảnh hưởng trong những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Nguyễn Duy Quỳnh. (2021). Một cách tiếp cận nghiên cứu văn hóa chính trị, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, 97 (6), 92-99, tr.92.
Tài liệu tiếng Anh.
- Almond, G. (1956). Comparative political systems: Journal of politics, XVIII, 391409,p.396.
- Almond, G. A., & Verba, S. (2015). The civic culture: Political attitudes and democracy in five nations. Boston: Little, Brown and Company, p.15.
- Arnold, M. (1873). Literature and dogma. (Preface). London: Smith Elder.
- Barry, B. (1988). Sociologists, economists, and democracy. University of Chicago Press, pp.51-2.
- D. Robertson. (1985). The Penguin Dictionary of Politics, Harmondsworth, Midx: Penguin, p. 263.
- Dawson, & Prewitt. (1969). Political Socialization. Boston: Little, Brown & Company, p.27.
- De Secondat Montesquieu, C. (1977). The spirit of laws. Univ of California Press, p.184.
- De Tocqueville, A. (1945). Democracy in America: Volume II (Vol. 2). New York: Knopf, p.8.
- Engels, F., & Karl, M. (1972). Selected Works of Marx and Engels (Vol. 3, p. 12).
People’s Publishing House
- Kroeber, A. L., & Kluckhohn, C. (1952). Culture: A critical review of concepts and definitions. Cambridge, MA: Peabody Museum, pp.181.
- Lang, A. (1997). Thinking rich as well as simple: Boesch’s cultural psychology in semiotic perspective. Culture & Psychology, 3, 383–394.
- Lawrence, J. (2011). The culture of elections in modern Britain. History, 96(324), 459-476.
- Pye, L. W., & Verba, S. (2015). Political culture and political development. Princeton University Press, p.513.
- R. Rose. (1980). Politics in England: An Interpretation for the 1980s, London: Faber, pp. 116-1.
- Tang, H. (2023). A Comparative Study of Chinese and Western Power Supervision Systems from the Perspective of Traditional Political Culture. Open Journal of Political Science, 13(1), 18-32.
- Wan, C., & Chiu, C. (2009). An intersubjective consensus approach to culture. The role of intersubjective norms versus cultural self in cultural processes. In R. S. Wyer, C.-Y. Chiu, & Y.-Y. Hong (Eds.), Understanding culture: Theory, research and application (pp. 79–91). New York, NY: Psychology Press
- Wildavsky, A. (1987). Choosing preferences by constructing institutions: A cultural theory of preference formation. American political science review, 81(1), 3-21
Tài liệu trên internet
- Statista.(2023). Voter turnout in general elections and in the Brexit referendum in the United Kingdom from 1918 to 2019, https://www.statista.com/statistics/1050929/voter-turnout-in-the-uk/ , accessed: 18/12/2023.
- UNESCO (2001). UNESCO Universal Declaration on Cultural Diversity, http://www.unesco.org/new/fileadmin/MULTIMEDIA/HQ/CLT/pdf/5_Cultural_Diver sity_EN.pdf , accessed: 15/12/2023.
- W. J. Korab-Karpowicz .(?). Plato: Political Philosophy, https://iep.utm.edu/platopol/ , truy cập ngày 17/12/2023.






◉ 0 Thảo luận Khoa học