Khoa học Kỳ thú

Tại sao càng cô đơn, con người đôi khi càng khó kết bạn?

Cô đơn chứa một nghịch lý rất lạ. Nếu đói, cơ thể thúc đẩy chúng ta tìm thức ăn. Nếu khát, chúng ta tìm nước. Vì vậy, nếu cô đơn là tín hiệu cho biết nhu cầu kết nối xã hội chưa được đáp ứng, điều hợp lý nhất phải là người cô đơn chủ […]

Cô đơn chứa một nghịch lý rất lạ. Nếu đói, cơ thể thúc đẩy chúng ta tìm thức ăn. Nếu khát, chúng ta tìm nước. Vì vậy, nếu cô đơn là tín hiệu cho biết nhu cầu kết nối xã hội chưa được đáp ứng, điều hợp lý nhất phải là người cô đơn chủ động gặp gỡ, trò chuyện và xây dựng quan hệ nhiều hơn. Nhưng trong đời sống thực, đôi khi điều ngược lại xảy ra. Người càng cảm thấy cô đơn càng ngại tham gia cuộc gặp, ít chia sẻ chuyện riêng, dễ nghi ngờ rằng người khác không thích mình và sau một vài trải nghiệm không thuận lợi lại càng thu mình hơn.

Trước tiên cần phân biệt cô đơn với việc ở một mình. Một người có thể sống một mình nhưng có những quan hệ thân thiết, cảm thấy được yêu thương và hoàn toàn không cô đơn. Ngược lại, một người mỗi ngày gặp hàng chục đồng nghiệp, sống cùng gia đình và có hàng nghìn người theo dõi trên mạng vẫn có thể cảm thấy không ai thực sự hiểu mình. Khoa học thường phân biệt trạng thái cô lập xã hội, mang tính tương đối khách quan về số lượng và cấu trúc quan hệ, với cảm giác cô đơn, tức khoảng cách chủ quan giữa mức kết nối một người mong muốn và mức kết nối họ cảm thấy mình đang có. Một bài tổng quan trên Nature Reviews Psychology năm 2025 còn chỉ ra rằng khái niệm kết nối xã hội thực tế gồm nhiều lớp khác nhau, từ cảm nhận chủ quan, cấu trúc mạng xã hội đến hành vi tương tác và mức độ đồng bộ giữa người với người.

Một nghiên cứu rất đáng chú ý do Sijing Shao và cộng sự công bố trên Communications Psychology tháng 2/2026 cho phép quan sát vòng lặp cô đơn ngay trong đời sống hàng ngày. Nhóm nghiên cứu tuyển 157 người trưởng thành trung niên và yêu cầu họ trả lời khảo sát trên điện thoại năm lần mỗi ngày trong 20 ngày. Người tham gia báo cáo mức độ cô đơn, cảm giác bị từ chối hoặc chỉ trích trong tương tác gần nhất, số lần tương tác và mức độ họ chia sẻ những thông tin cá nhân. Đây là một thiết kế có giá trị vì thay vì chỉ so sánh một nhóm người cô đơn với một nhóm không cô đơn ở một thời điểm, nó cho phép theo dõi chính một người khi trạng thái cảm xúc của họ thay đổi trong ngày.

Kết quả cho thấy cảm giác cô đơn và cảm nhận bị từ chối có mối liên hệ hai chiều. Khi mức cô đơn tăng, những thời điểm sau đó người tham gia có xu hướng tương tác ít hơn và tự bộc lộ ít hơn. Ở những người vốn có mức cô đơn kéo dài cao hơn, mối liên kết giữa cô đơn và cảm nhận bị từ chối cũng bền hơn. Điều này không chứng minh rằng người cô đơn luôn nhìn nhầm người khác hoặc tự tạo ra hoàn cảnh của mình. Nhưng nó cho thấy một cơ chế có khả năng duy trì trạng thái cô đơn: cảm xúc thay đổi cách đánh giá tình huống, cách đánh giá ảnh hưởng đến hành vi và hành vi lại thay đổi cơ hội tạo ra một trải nghiệm xã hội tích cực.

Hãy tưởng tượng một người đã nhiều lần cảm thấy mình không được chấp nhận. Trong cuộc gặp tiếp theo, họ quyết định thận trọng. Họ không kể nhiều về bản thân vì sợ bị đánh giá. Họ không nhắn trước sau cuộc gặp vì không muốn tỏ ra quá quan tâm. Họ không đề nghị gặp lại vì sợ nhận một câu từ chối. Trong ngắn hạn, đây là những hành vi tự bảo vệ rất hợp lý. Nếu không chủ động, họ sẽ ít có khả năng bị từ chối trực tiếp.

Nhưng việc xây dựng tình bạn lại cần nhiều thứ trái ngược với chiến lược tự bảo vệ đó. Hai người cần gặp nhau đủ nhiều, chia sẻ đủ thông tin, thể hiện đủ dấu hiệu thiện chí và dần hình thành niềm tin. Nếu một người liên tục giữ khoảng cách, người đối diện cũng nhận được rất ít tín hiệu cho thấy quan hệ nên tiếp tục. Họ có thể chủ động ít hơn. Sự giảm chủ động đó sau đó lại bị đọc như một bằng chứng rằng nhận định ban đầu là đúng: chẳng ai thật sự muốn gần mình.

Đây là cách một vòng phản hồi có thể hình thành mà không bên nào có ý định làm tổn thương bên còn lại.

Một yếu tố khác là sự mơ hồ của tín hiệu xã hội. Đời sống thật hiếm khi cho chúng ta một bảng thông báo nói rõ người khác đang nghĩ gì. Một người không trả lời tin nhắn trong ba giờ có thể vì đang bận, ngủ, họp hoặc đơn giản chưa nhìn điện thoại. Một đồng nghiệp trả lời ngắn có thể đang mệt. Một người không nhìn vào mắt ta có thể đang lo lắng về chính họ. Nhưng khi đang đặc biệt nhạy với nguy cơ bị từ chối, những tín hiệu mơ hồ này dễ được đưa vào một mô hình tiêu cực hơn.

Điều đáng chú ý là ngay cả những người mới gặp nhau cũng thường đánh giá thấp thiện cảm mà người kia dành cho mình. Nghiên cứu của Susan Sprecher trên 1.835 người cho thấy trung bình người tham gia nghĩ mình được thích ít hơn mức người đối diện thực sự báo cáo. Như vậy, ngay cả trong dân số nói chung, việc đọc chính xác thái độ của một người mới quen đã không dễ. Khi trải nghiệm bị từ chối hoặc cô đơn làm tăng mức cảnh giác xã hội, bài toán đó có thể càng khó hơn.

Quảng cáo

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm lớn nếu biến cơ chế này thành câu chuyện rằng người cô đơn phải chịu trách nhiệm cho sự cô đơn của mình. Cô đơn có thể bắt nguồn từ rất nhiều hoàn cảnh không do cá nhân lựa chọn: mất người thân, chuyển thành phố, tan vỡ quan hệ, bệnh tật, khuyết tật, nghỉ hưu, thất nghiệp, phân biệt đối xử, thiếu cộng đồng phù hợp, chăm sóc người bệnh kéo dài hoặc đơn giản là mạng lưới xã hội cũ đã thay đổi. Những cơ chế tâm lý được mô tả ở trên có thể góp phần duy trì tình trạng sau khi nó xuất hiện, nhưng không đồng nghĩa chúng là nguyên nhân duy nhất hay nguyên nhân ban đầu.

Đây cũng là lý do lời khuyên “hãy ra ngoài gặp nhiều người hơn” thường quá đơn giản. Nếu cô đơn chỉ là bài toán đếm số người, một bữa tiệc đông người phải là phương thuốc hoàn hảo. Nhưng điều nhiều người thiếu không phải sự hiện diện vật lý của người khác mà là cảm giác thuộc về, được hiểu và có quan hệ đủ an toàn để chia sẻ bản thân. Một người có thể trải qua một buổi tối giữa hàng trăm người nhưng trở về nhà cô đơn hơn trước.

Nghiên cứu của Shao và cộng sự cũng đem lại một điểm tích cực: những quá trình này có tính động. Cảm giác cô đơn trong một người dao động theo thời gian, mức cảm nhận bị từ chối cũng dao động và hành vi xã hội không phải một đặc điểm bất biến. Điều đó có nghĩa một vòng lặp có thể tự củng cố nhưng không phải định mệnh. Những môi trường có tương tác lặp lại, quan hệ có mức an toàn cao, phản hồi rõ ràng và những trải nghiệm xã hội tích cực có thể cung cấp dữ liệu mới để hệ thống dự đoán xã hội của một người cập nhật.

Vì thế, nghịch lý “càng cô đơn càng khó kết bạn” không có nghĩa nhu cầu kết nối đã biến mất. Có thể điều ngược lại mới đúng. Khi kết nối trở nên quá quan trọng, nguy cơ bị từ chối cũng trở nên đáng sợ hơn. Một người có thể rất muốn nhắn tin nhưng lại sợ nhắn trước, rất muốn được hiểu nhưng không dám nói về mình, rất muốn được mời nhưng lại tránh cuộc gặp vì lo mình không thuộc về đó. Cô đơn khi ấy không chỉ là thiếu người xung quanh. Nó có thể trở thành một trạng thái làm thay đổi cách con người bước vào chính những cơ hội có khả năng giúp họ thoát khỏi cô đơn.

Tài liệu tham khảo:

Shao, S., Beck, E. D., Hawks, Z., Van Bogart, K., Graham, E. K., et al. (2026). Loneliness modulates social threat detection in daily life. Communications Psychology, 4, 44;

Baek, E. C., Pourafshari, R., & Bayer, J. B. (2025). The four conceptualizations of social connection. Nature Reviews Psychology, 4, 506–517;

Sprecher, S. (2026). Liking gap(s) in getting-acquainted interactions. The Journal of Social Psychology, 166(5), 650–655.

Thông tin truy xuất

DOIChưa cấp DOI
Cập nhật19/09/2026
Định dạng trích dẫnAPA · Chicago · Bộ GD&ĐT
Chủ đềKhoa học Kỳ thú
Quảng cáo
Thông tin tác giả
Nghiên Cứu - Vietnam ScholarHub
Nghiên Cứu - Vietnam ScholarHub
Vietnam ScholarHub
Hồ sơ học thuật trên Vietnam ScholarHub.
196Bài viết
0Trích dẫn
0H-index

Bình luận (0)

Vietnam ScholarHub

0 Thảo luận Khoa học

Nếu chưa có tài khoản VSH, bình luận vẫn hiển thị đúng tên bạn nhập. Email và thông tin liên hệ khác không hiển thị ra ngoài.

Markdown: **đậm**, *nghiêng*, `code`
Nội dung sẽ tuân theo quy tắc kiểm duyệt của Vietnam ScholarHub.
Chưa có thảo luận nào Hãy mở đầu bằng một nhận xét, câu hỏi hoặc phản biện có căn cứ.