1. Khái quát chung về thỏa thuận hạt nhân Iran

Vấn đề hạt nhân trên toàn cầu nói chung và vấn đề hạt nhân của Iran nói riêng, hiện vẫn đang là tâm điểm của chính trị quốc tế, có ảnh hưởng, tác động to lớn tới ổn định, phát triển của khu vực Trung Đông và thế giới. Thế giới đã có nhiều nỗ lực trong những năm qua nhằm kiểm soát chương trình hạt nhân của Iran, vấn đề hạt nhân Iran tưởng chừng đã đạt tới một bước phát triển mới với một thỏa thuận gọi tắt là JCPOA cùng P5+1 vào năm 2015, ba năm sau đó thỏa thuận lại rơi vào bế tắc bởi hành động đơn phương rút khỏi thỏa thuận của Mỹ.

Trước khi nền Cộng Hòa Hồi giáo Iran được thành lập vào năm 1979, dưới chế độ Phalavi, quan hệ giữa Mỹ và Iran đang trên đà phát triển thuận lợi, thậm chí, Mỹ còn coi Iran là đồng minh của mình ở khu vực Trung Đông. Tại thời điểm đó, chương trình hạt nhân của Iran không những không bị Mỹ kiềm chế mà còn được Mỹ giúp đỡ xây dựng kế hoạch phát triển điện hạt nhân, đào tạo nhân lực, cung cấp lò phản ứng hạt nhân, phục vụ nghiên cứu cùng nhiên liệu hạt nhân cho Tehran. Sau đó liên tục những Hiệp ước về hạt nhân giữa Mỹ và Iran được ký kết như: Hiệp ước PTBT (1963) và Hiệp ước NPT (1968).

Kể từ sau Cách mạng Hồi giáo, Iran luôn áp dụng và thực hiện các chính sách chống phương Tây (Mỹ). Là một quốc gia cực kỳ quan trọng và có ảnh hưởng ở Trung Đông, Iran có can đảm công khai đối đầu với Mỹ, và ở một mức độ nào đó đã trở thành biểu tượng chính của việc chống chủ nghĩa bá quyền và bảo vệ lợi ích của mình. Vấn đề hạt nhân của Iran và ảnh hưởng chính trị sâu rộng của Iran ở Trung Đông là một trong những vấn đề đau đầu đối với Mỹ. Tại Vienna, Áo, vào ngày 14 tháng 7 năm 2015, các nhà đàm phán từ Iran và P5 + 1 cùng với EU, đã tuyên bố hoàn tất một thỏa thuận hạt nhân nghiêm ngặt với Iran – Còn gọi là Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung (JCPOA).

Là kết quả của gần hai năm căng thẳng trên trường quốc tế và 13 năm sau khi các hoạt động hạt nhân bí mật của Iran lần đầu tiên bị phanh phui, JCPOA là một tài liệu dài và phức tạp, thỏa thuận dài tổng cộng 100 trang, có phần chính và năm phụ lục, trong đó bao gồm các lệnh trừng phạt, các vấn đề hạt nhân và công việc của Ủy ban Hỗn hợp giữa P5+1 và Iran, hợp tác năng lượng hạt nhân và kế hoạch thực hiện của thỏa thuận. Nội dung của JCPOA bao gồm tất cả các khía cạnh chính liên quan đến việc giải quyết vấn đề hạt nhân Iran. Ngoài ra, văn kiện đạt được lần này còn có dự thảo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Iran chính thức tuyên bố sẽ không bao giờ tìm cách phát triển vũ khí hạt nhân và ca ngợi JCPOA có ý nghĩa lịch sử. Lãnh đạo nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, hầu hết đều hoan nghênh hành động này. Người ta tin rằng tầm hoạt động của JCPOA sẽ giúp Iran bước sang một giai đoạn mới trong quan hệ với phương Tây.[4]

  1. Thực trạng thỏa thuận hạt nhân Iran

Cách đây 7 năm, 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Đức, Iran cùng Đại diện Cấp cao về Chính sách An ninh và Đối ngoại của EU đã ký kết một thỏa thuận ngoại giao mang tính bước ngoặt. Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung (JCPOA) là kết quả của hơn một thập kỷ ngoại giao căng thẳng về chương trình hạt nhân của Iran và đã giành được sự nhất trí của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Ngày 8 tháng 11 năm 2016, Donald Trump được bầu làm Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống, Trump gọi JCPOA là thỏa thuận tồi tệ nhất từng được đàm phán và cam kết sẽ đàm phán lại. Các đồng minh châu Âu của Mỹ trong P5 + 1 trước đó đã báo hiệu rằng họ sẽ chống lại các nỗ lực đàm phán lại thỏa thuận. Khi Trump đắc cử vào năm 2017, chính sách của Mỹ đối với Iran thay đổi mạnh mẽ, Tổng thống Trump luôn chỉ trích những chính sách dưới thời Obama là yếu đuối, không đủ ngăn chặn tham vọng hạt nhân của Iran

Việc thực hiện đầy đủ JCPOA đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi quyết định của cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump vào năm 2018 khi ông đã rút Mỹ khỏi thỏa thuận và theo đuổi chiến dịch đơn phương “gây áp lực tối đa”. Về phần mình, Iran đã đẩy mạnh hoạt động hạt nhân lên mức báo động. Cuối cùng, chiến dịch “gây áp lực tối đa” của Trump đã thất bại vì sự đoàn kết tập thể của 5 nước tham gia còn lại nhằm duy trì một thỏa thuận đa phương đã giữ cho thỏa thuận này tồn tại.

Kể từ khi Donald Trump nhậm chức, có thể nhận thấy rõ chính quyền Trump đã nỗ lực không ngừng nhằm đưa Mỹ rút khỏi JCPOA và đảo ngược chính sách về Iran của chính quyền Obama. Trump đã coi JCPOA là “một trong những thỏa thuận tồi tệ và phiến diện nhất trong lịch sử Hoa Kỳ”.[3] Cùng với các lệnh trừng phạt mới của quốc hội và chính quyền đối với Iran, mục tiêu chiến lược của Trump là làm tổn hại đến nền kinh tế Iran, thể hiện một động thái đơn phương nhằm phá hoại một thỏa thuận đa phương.[1]

Nhiều học giả cho rằng, quan điểm rút khỏi JCPOA của chính quyền Trump mục đích chính là nhằm thay đổi chế độ Cộng hòa Hồi giáo ở Iran, mục tiêu mà các phần tử hiếu chiến ở Mỹ và các thế lực phản động đã theo đuổi hàng thập niên. Với hi vọng rằng, tăng cường áp lực kinh tế tới Iran để gây bất mãn trong quần chúng để chế độ thần quyền tự sụp đổ, thứ hai là khiêu khích Iran tái khởi động chương trình hạt nhân, với lý do đe dọa đến an ninh của Mỹ và khu vực, Washington có thể phát động chiến tranh phòng ngừa.

Trump đã hết nhiệm kì, kết quả là Nhà nước Cộng hòa Hồi giáo Iran vẫn còn tồn tại, vậy nên có thể thấy rằng chính sách “gây áp lực tối đa”, thắt chặt các lệnh trừng phạt đối với Iran có thể làm sụp đổ chế độ chỉ là suy nghĩ viển vông. Nhìn vào thực tiễn, lệnh cấm vận của Mỹ với Cuba đã kéo dài hơn 50 năm ( từ 1958 đến nay), và chế độ của Fidel Castro vẫn còn tồn tại nguyên vẹn (kể cả khi Fidel đã chết).[2] Đồng thời, trong hơn 60 năm liên tục áp đặt những lệnh trừng phạt lên Triều Tiên cũng không lật đổ được chế độ này, mà ngược lại, Triều Tiên ngày càng bành chướng trong khu vực Đông Bắc Á. Áp lực kinh tế có thể khiến Iran suy yếu và thuyết phục Iran phải ngồi vào bàn đàm phán, nhưng nó không có nghĩa rằng chế độ ở Iran sẽ sụp đổ, đồng thời việc rời khỏi JCPOA không đủ để đánh bại Iran.

Sau thỏa thuận hạt nhân Iran (JCPOA) năm 2015, nhiều cuộc tranh luận đã diễn ra về việc liệu chiến lược trừng phạt của Mỹ có đưa Iran vào bàn đàm phán hay không, hoặc các yếu tố địa chính trị khác đã đóng một vai trò như thế nào.

Trên bình diện khu vực, Iran cũng cho thấy vai trò và sức ảnh hưởng to lớn khi bị quay lưng hoặc trở thành mục tiêu của sự thù địch. Với Lực lượng Vệ binh cách mạng tinh nhuệ cùng các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực, Iran được cho là đứng sau nhiều cuộc tấn công vào lực lượng Mỹ ở Iraq, các tàu chở dầu ở vùng Vịnh và một số cơ sở hạ tầng dầu mỏ ở Saudi Arabia, v.v. Có thể khẳng định, Tổng thống Joe Biden hoàn toàn chính xác khi coi việc cứu vãn Thỏa thuận hạt nhân Iran là một ưu tiên trong nhiệm kỳ vì khu vực Trung Đông luôn có vai trò trọng yếu trong chính sách toàn cầu của Mỹ. Quay trở lại, JCPOA không chỉ là vấn đề mang tính biểu tượng, thể hiện sự trở lại với các chính sách truyền thống của xứ Cờ hoa sau những gián đoạn dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump mà còn thể hiện quan điểm: Trung Đông sẽ rất khó ổn định nếu không làm dịu bầu không khí căng thẳng với Iran.

Cho đến khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden lên nắm quyền, hy vọng mở ra một hướng giải quyết mới về JCPOA dần được hiện thực hóa, điển hình vào ngày 18/2/2022 Chính quyền Joe Biden tuyên bố sẵn sàng khởi động lại đàm phán với Iran về việc quay trở lại thỏa thuận hạt nhân năm 2015. Việc chính quyền Biden sẵn sàng nối lại các cuộc đàm phán hạt nhân với Iran có thể được coi là một hành động cân bằng và là một phần trong chiến lược rút khỏi Trung Đông của Mỹ hơn là một nỗ lực nhằm phản ánh tầm quan trọng chiến lược của khu vực. Trung Đông từng là một trong những điểm đến chính của các tài sản chiến lược cốt lõi của Mỹ. Tuy nhiên, vì các ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ tập trung vào việc tạo đòn bẩy chống lại Trung Quốc, nên việc Washington điều chỉnh lại các chiến lược của mình ở khu vực Trung Đông là điều không thể tránh khỏi.

Kế hoạch Hành động toàn diện chung (JCPOA) hay còn gọi là Thỏa thuận hạt nhân Iran mặc dù được nối lại đàm phán sau thời gian dài đình trệ, song sớm rơi vào bế tắc trong bối cảnh Iran đạt được nhiều tiến bộ trong sản xuất làm giàu uranium. Dưới sự trung gian và hỗ trợ tích cực của EU, Nga và Trung Quốc, đàm phán về Thỏa thuận hạt nhân Iran đã nối lại tại Thủ đô Viên của Áo vào tháng 4-2021 với nhiều kỳ vọng. Tuy nhiên, sau 6 vòng đàm phán tích cực, các bên vẫn chưa đạt được một thỏa thuận thực chất. Sự cứng rắn của cả Mỹ và Iran về những vấn đề cốt lõi là trở ngại khó vượt qua, đòi hỏi sự nhượng bộ thực chất hơn từ cả hai phía. Trong khi Mỹ muốn Iran tuân thủ trở lại các cam kết trong Thỏa thuận trước khi chấp nhận xóa bỏ hoàn toàn những lệnh trừng phạt, thì phía Iran lại mong muốn điều ngược lại. Việc chính quyền của Tổng thống Iran Ebrahim Raisol-Sadati chủ trương “không lệ thuộc vào JCPOA, không chịu sức ép của phương Tây và đàm phán thực chất vì lợi ích của nhân dân Iran” và bổ nhiệm một số quan chức đối ngoại cấp cao có tư tưởng cứng rắn chống phương Tây, gồm Bộ trưởng Ngoại giao Iran Hossein Amir-Abdollahian và Trưởng đoàn đàm phán về hạt nhân, Thứ trưởng Ngoại giao Iran Ali Bagheri càng khiến cho tương lai về một thỏa thuận ràng buộc hai bên trở nên xa vời.

Xét về yếu tố địa chính trị, khu vực Trung Đông là một trong những khu vực có tầm quan trọng đáng kể trong hệ thống quốc tế, tác động sâu rộng đến chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia. Trung Đông là Một khu vực đầy bất ổn, chứa đựng những mâu thuẫn chồng chéo đan xen, trong đó, chương trình hạt nhân của Iran đặc biệt gây phản ứng dữ dội của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế, thỏa thuận hạt nhân Iran tưởng chừng là chìa khóa của vấn đề, tuy nhiên dưới sức ép của các nhóm vận động hành lang Israel, Ả Rập Xê-út và chính sách đối ngoại bảo thủ, cực đoan đối với Iran của Tổng thống Donal Trump đã dẫn đến việc Mỹ rút khỏi JCPOA và đưa chương trình hạt nhân của Iran rơi vào khủng hoảng, bất chấp những nỗ lực duy trì của nhóm 5 nước còn lại (Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc). Đến nay, thỏa thuận hạt nhân Iran vẫn là một vấn đề nan giải đối với chính quyền Mỹ, bởi nếu Mỹ có  quay trở lại JCPOA tại thời điểm hiện tại thì cũng không ai biết được rằng liệu chính quyền kế nhiệm có một lần nữa rút khỏi JCPOA hay không, cũng chính điều này đã tạo nên sự hoài nghi giữa hai bên, khiến việc quay trở lại thỏa thuận ngày càng khó đạt được kết quả. Trong bối cảnh chính trị quốc tế có nhiều bất ổn, xung đột, căng thẳng leo thang tại nhiều khu vực, việc quay lại và duy trì thỏa thuận hạt nhân Iran (JCPOA) là một điều cần thiết nhằm kiềm chế chương trình hạt nhân Iran bởi xét theo kịch bản tiêu cực, không loại trừ khả năng Iran quay trở lại chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân.

  1. Triển vọng của thỏa thuận hạt nhân Iran

Trong thời gian gần đây, các quan chức EU bày tỏ lạc quan rằng JCPOA có thể được hồi sinh. Mặc dù hiện vẫn còn một số câu hỏi liên quan đến việc đảm bảo kinh tế và các biện pháp trừng phạt còn đang bỏ ngỏ nhưng các điểm mấu chốt khác đã được giải quyết.

Ngày 26/8/2022, người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ John Kirby xác nhận Iran đã từ bỏ một số yêu cầu chính, từ đó cho phép hai bên đạt được một số tiến bộ, nhưng cảnh báo “vẫn còn rất nhiều khoảng trống” cần giải quyết. Các quan chức EU tham gia đàm phán cũng cảnh báo để khôi phục được thỏa thuận này cần phải có các quyết định chính trị cứng rắn từ cả Washington và Tehran.

Một thỏa thuận được khôi phục sẽ tạm thời hạn chế khả năng hạt nhân của Tehran và giúp gỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với Tehran, tạo điều kiện giải phóng hàng tỉ USD tài sản bị đóng băng cũng như doanh thu từ dầu và khí đốt của Iran. Sau đó, Iran có thể “bổ sung” khoảng 1 triệu thùng dầu/ngày vào thị trường, ít nhất sẽ thay thế một phần nguồn cung dầu của Nga đến châu Âu, giúp đẩy giá năng lượng toàn cầu giảm xuống.

Tuy nhiên, việc hồi sinh JCPOA sẽ bao gồm một chế độ giám sát chặt chẽ để xác minh Iran có đáp ứng các cam kết của mình hay không. Thỏa thuận sẽ không bao gồm bất kỳ hoạt động quân sự phi hạt nhân hóa nào của Iran, chẳng hạn như hỗ trợ cho các tổ chức khủng bố.

Hiện tại, Iran vẫn đang tìm kiếm thêm sự đảm bảo rằng chính quyền Mỹ trong tương lai sẽ không rời bỏ thỏa thuận một lần nữa bởi chính quyền Tổng thống Joe Biden đã nhiều lần tuyên bố rằng họ sẽ duy trì các nghĩa vụ của mình nhưng không thể có được sự đảm bảo pháp lý với chính quyền kế nhiệm. Iran muốn có những đảm bảo được tích hợp trong văn bản mới để giảm bớt những tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với nền kinh tế Iran nếu thỏa thuận sụp đổ một lần nữa.

Theo đánh giá của các quan chức phương Tây, nếu sự đảm bảo này được lập thành văn bản trong thỏa thuận mới sẽ cho phép các công ty nước ngoài tiếp tục hoạt động tại Iran trong 2,5 năm mà không lo bị trừng phạt ngay cả khi thỏa thuận bị đổ vỡ. Đồng thời, Tehran cũng có được “sự đảm bảo” cho phép nước này tăng cường năng lực làm giàu uranium khá nhanh để ngăn Washington phá bỏ thỏa thuận một lần nữa.

Mặc dù có nhiều dấu hiệu khả quan nhưng các nhà phân tích đánh giá, thỏa thuận mới có vẻ ít nội dung và yếu hơn. Trong khi JCPOA ban đầu có các hạn chế lên tới 20 năm đối với chương trình hạt nhân của Iran, thì JCPOA được phục hồi có vẻ sẽ chỉ kéo dài nếu ông chủ Nhà Trắng vẫn là đảng viên đảng Dân chủ. Thực tế, các lãnh đạo chủ chốt của đảng Cộng hòa Mỹ đã công khai cam kết hủy bỏ thỏa thuận này nếu đảng viên của họ được bầu vào Nhà Trắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2024.

Một là, Mỹ và Iran vẫn còn thiếu sự tin cậy lẫn nhau. Có thể thấy, một trong những điểm khác biệt quan trọng giữa JCPOA ban đầu và phiên bản hồi sinh hiện tại của nó là môi trường ngoại giao. Vào thời điểm JCPOA được ký năm 2015, các nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ và Iran như cựu Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và người đồng cấp Iran Javal Zarif đã tạo dựng được niềm tin với nhau sau hơn 2 năm đàm phán trực tiếp. Tuy nhiên, đối với JCPOA mới, việc đàm phán lại không phải do các nhà ngoại giao hàng đầu của Washington và Tehran mà là bởi các đặc phái viên được chỉ định của cả hai bên. Thậm chí, những người này còn chưa từng nói chuyện hoặc thảo luận với nhau trước đó. Trong suốt 17 tháng đàm phán, Iran đều từ chối đàm phán trực tiếp, do đó, các cuộc đàm phán gián tiếp đã phần nào làm “suy kiệt” niềm tin giữa hai bên. Hơn nữa, sự bất ổn chính trị và sự phân cực ở Mỹ đã khiến mọi lời hứa của họ trở nên thiếu sự tin cậy. Thực tế thời gian qua cho thấy, các tổng thống Mỹ không còn có thể được kỳ vọng sẽ tôn trọng các thỏa thuận mà những người tiền nhiệm của họ đã ký, càng làm sâu sắc thêm sự e ngại của Tehran về việc gia hạn JCPOA.

Hai là, chính quyền Joe Biden vẫn từ chối yêu cầu của Iran bao gồm các cơ chế ràng buộc có thể ngăn chặn việc Mỹ rút khỏi JCPOA lần thứ hai không chính đáng khi khẳng định rằng trong một chế độ dân chủ, một tổng thống không thể “trói tay” những người kế nhiệm của mình.

Ba là, những thay đổi được thực hiện đối với JCPOA để đáp ứng yêu cầu của Iran – chẳng hạn như kéo dài thời gian ân hạn để các công ty nước ngoài kết thúc thương mại với Iran trong trường hợp các lệnh trừng phạt được áp dụng lại – hoàn toàn không đạt được kỳ vọng của Tehran. Rõ ràng là Iran có thể thấy không cần thiết phải tìm kiếm mối quan hệ hợp tác với một nước Mỹ “không đáng tin cậy” như hiện nay.

Bốn là, hoàn cảnh địa chính trị hiện tại. Cuộc xung đột Nga – Ukraine đang ngày càng leo thang khiến Iran nghiêng về phương Đông hơn phương Tây. Với vị trí địa lý thuận lợi trong một thế giới đa cực không thể đảo ngược, Iran đang ngày càng có một môi trường địa chính trị triển vọng với tư cách là một cường quốc lớn trong khu vực. Theo hướng này, châu Âu rõ ràng cần khí đốt của Iran hơn bao giờ hết. Sự xung đột và cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc và Nga với Mỹ làm cho hai nước này muốn thúc đẩy quan hệ với Iran. Bên cạnh đó, sự phân chia nền kinh tế toàn cầu giữa phương Đông và phương Tây sẽ tạo ra cho Iran nhiều cơ hội để thoát khỏi các lệnh trừng phạt của Mỹ hơn, khiến cho tâm lý lo sợ bị trừng phạt sẽ giảm đi nhiều. Trong khi đó, phía Mỹ cũng không thiếu sự do dự. Chính quyền Tổng thống Joe Biden vốn không có nhiều hứng thú trong việc can dự rộng hơn tới vấn đề Iran dưới thời Tổng thống Hassan Rouhani, thậm chí còn ít hơn dưới thời Tổng thống đương nhiệm Ebrahim Raisi. Hơn nữa, giờ đây ngay cả đối tác thân cận nhất của Mỹ ở Trung Đông là Ả Rập Xê Út và Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng đang mạo hiểm tìm kiếm các cách thức khác nhau để đảm bảo an ninh của mình thì không có cớ gì Iran lại “đặt cược” và tìm kiếm mối quan hệ hợp tác với một nước Mỹ “đầy bất an” với họ.

Năm là, rào cản lớn hơn đối với việc khôi phục và duy trì một thỏa thuận lâu dài là việc Washington sử dụng việc bán vũ khí cho các đồng minh Trung Đông để duy trì ảnh hưởng trong khu vực. Mỹ không thể mong đợi một thỏa thuận kiểm soát vũ khí với Iran sẽ tồn tại lâu dài nếu nước này đồng thời tìm cách mở rộng Hiệp định Abraham thành một liên minh quân sự chống Iran và cung cấp các hệ thống vũ khí ngày càng tinh vi hơn cho các đối thủ trong khu vực của Iran. Việc củng cố sự chia rẽ trong khu vực và gia tăng sự nghi ngờ của Iran về các nước láng giềng sẽ chỉ tạo cho Iran những động lực mới để gian lận trong thỏa thuận và theo đuổi biện pháp răn đe hạt nhân.

Chính vì các lý do này, nhiều chiến lược gia cho rằng việc khôi phục lại JCPOA có lẽ sẽ không kéo dài được bao lâu sau nhiệm kỳ tổng thống của ông Joe Biden. Sự ngờ vực lẫn nhau và những nghi ngờ về “độ bền” của thỏa thuận khiến nó trở nên quá “mong manh” để có thể chịu được sức nặng của căng thẳng Mỹ – Iran. Do đó, Washington và Tehran có thể sẽ dành 2 năm tới để chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng mới vào năm 2025. Tehran sẽ tìm cách làm cho nền kinh tế của mình không bị trừng phạt, trong khi đó Washington sẽ tìm cách làm cho lựa chọn quân sự của mình trở nên đáng tin cậy. Tuy nhiên, hành động với kỳ vọng rằng JCPOA mới sẽ không tồn tại, có thể khiến sự sụp đổ của nó trở thành “một lời tiên tri tự ứng nghiệm”.

Có thể thấy, những lý do chính khiến JCPOA mới “mong manh” hơn không phải là nội hàm của thỏa thuận mà là những yếu tố bên ngoài. Hiện nay, không chỉ là Tehran mà nhiều nơi khác trên thế giới đang có thái độ ngờ vực về khả năng của Washington trong việc duy trì các thỏa thuận và cam kết quốc tế. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo Iran và Mỹ cũng vẫn chưa vượt ra được khỏi sự thù địch cố hữu. Do đó, JCPOA có thể sẽ được hồi sinh trong bối cảnh chiến lược làm giảm bớt thay vì củng cố tính lâu dài của nó. Tuy nhiên, nếu muốn và quyết tâm, hai bên vẫn có thể nỗ lực để vượt qua các lo ngại này và làm cho thỏa thuận lâu dài hơn. Nếu không, ngay cả bước đột phá lịch sử này cũng có thể chỉ là tiền đề cho một cuộc khủng hoảng thậm chí còn nguy hiểm hơn ở phía trước.