Bộ công cụ

HƯỚNG DẪN TRÍCH DẪN TÀI LIỆU, LÀM FOOTNOTE VÀ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO KIỂU APA

[Cập nhật 02.2026] Yêu cầu chung  – Việc trích dẫn phải đảm bảo tính chính xác, giúp người đọc dễ dàng tìm được tài liệu  mà người viết đã trích dẫn và nhất là tìm được đoạn văn mà người viết sử dụng. – Đối với lĩnh vực luật học, việc trích dẫn tài liệu […]

[Cập nhật 02.2026]

  1. Yêu cầu chung 

– Việc trích dẫn phải đảm bảo tính chính xác, giúp người đọc dễ dàng tìm được tài liệu  mà người viết đã trích dẫn và nhất là tìm được đoạn văn mà người viết sử dụng.

– Đối với lĩnh vực luật học, việc trích dẫn tài liệu được thực hiện theo phương pháp truyền  thống, tức là đưa vào footnote, không sử dụng cách trích dẫn kiểu Harvard như bên ngành kinh  tế. 

  1. Cách thức thực hiện 
  2. Cách trích dẫn tài liệu 

– Trong trường hợp trích dẫn nguyên đoạn văn của tài liệu: đoạn văn đó phải được đưa  vào trong ngoặc kép “…..”, và in nghiêng. Cuối đoạn văn phải có footnote ghi chú nguồn tài  liệu. 

Nếu đoạn văn được trích dẫn bằng tiếng nước ngoài, thì phần trích dẫn trong bài viết là  phần dịch ra tiếng Việt, còn nguyên văn bằng tiếng nước ngoài được cho vào footnote, để người  đọc tiện tra cứu khi cần thiết. 

– Trong trường hợp chỉ lấy ý, không lấy nguyên đoạn văn: khi hết ý trích dẫn thì đặt  footnote ghi chú nguồn tài liệu. 

– Trong trường hợp lấy lại một từ hoặc cụm từ: từ hoặc cụm từ đó cũng được đặt trong  ngoặc kép “…” và in nghiêng (trường hợp này thường được áp dụng đối với những từ hoặc  cụm từ “đắt giá” được sử dụng trong tài liệu, hoặc là những từ được tác giả tài liệu sử dụng lần  đầu trong ngành khoa học đó v.v…). Cuối từ hoặc cụm từ đó phải đặt footnote ghi chú nguồn  tài liệu. 

– Với các điều luật:  

+ Khi trích dẫn nguyên điều luật: cần cho vào ngoặc kép, in nghiêng. Cuối điều luật, có  thể mở ngoặc đơn (…) ghi rõ điều luật đó là điều nào. Ví dụ:  

Quảng cáo

Luật Thương mại năm 2005 đưa ra khái niệm về thương nhân như sau: 

“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt đông  thương mại độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” (điều 6 khoản 1). + Khi chỉ nêu ý của điều luật mà không trích dẫn nguyên văn, thì có thể mở ngoặc đơn  (…) ở cuối ý trích dẫn, hoặc đặt footnote. 

  1. Cách làm footnote: 

2.1. Đối với sách:

Tên tác giả, tên sách (in nghiêng), tập/lần tái bản, NXB, địa điểm xuất bản, năm xuất bản,  số trang trích dẫn. 

Ví dụ: 

GS.TS. Nguyễn Thị Mơ (chủ biên), Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối  ngoại, tái bản lần thứ 5, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 36. 

2.2. Đối với bài viết trên tạp chí: 

– Bài viết có một tác giả: 

Tên tác giả, “tên bài viết” (in thường, trong ngoặc kép), tên tạp chí (in nghiêng), số tạp  chí, năm xuất bản, số trang trích dẫn. 

Ví dụ:  

GS.TS. Hoàng Văn Châu, “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – kết quả đàm  phán, cơ hội, thách thức cho Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, số 77, 11/2015, tr. 4.  – Bài viết có nhiều tác giả (từ ba tác giả trở xuống). 

Tên các tác giả (theo đúng thứ tự xuất hiện trên bài viết), “tên bài viết” (in thường, trong  ngoặc kép), tên tạp chí (in nghiêng), số tạp chí, năm xuất bản, số trang trích dẫn. Ví dụ: 

  1. Cao Đinh Kiên, PGS. TS. Nguyễn Thu Thủy, Lương Hoàng Giang, “Ảnh hưởng của  tin tức hủy niêm yết lên giá cổ phiếu tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 77, 11/2015,  tr. 50. 

– Bài viết có nhiều hơn ba tác giả: 

Tên tác giả đầu tiên et al., “tên bài viết” (in thường, trong ngoặc kép), tên tạp chí (in  nghiêng), số tạp chí, năm xuất bản, số trang trích dẫn. 

Ví dụ: 

Busseuil G. et al., “Chronique des decisions de l’Organe de Règlement des différends  (ORD), aout 2009-novembre 2010”, Revue international de droit économique, no. 4, 2010, tr.  740. 

2.3. Đối với bài viết trích ra từ sách gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả khác nhau: Tên tác giả của bài viết, “tên bài viết”, trong tên tác giả của sách, tên sách (in nghiêng),  NXB, địa điểm xuất bản, năm xuất bản, số trang trích dẫn của bài viết. 

Ví dụ: 

Christine Chinkin, “Intervention before the International Court of Justice”, trong Friedl  Weiss (chủ biên), Improving WTO dispute settlement procedures: issues and lessons from the  practive of other international courts and tribunals, Cameron May, London, 2001, tr. 115. 2.4. Đối với bài viết được đăng tải trên website:

Tên tác giả, “tên bài viết”, ngày viết bài, số trang, thông tin bổ sung khác (nếu có), xem tại: đường link bài viết (truy cập ngày…). 

Ví dụ:  

William J. Davey, “Reforming WTO Dispute Settlement”, University of Illinois, Public  Law & Legal Theory Research Paper No. 04-01, January 29, 2004, tr. 10, xem tại:  http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=495386 (truy cập ngày 20/01/2016). 

2.5. Đối với các báo cáo của ban hội thẩm, Cơ quan Phúc thẩm của WTO hay các tài  liệu khác. 

Tên của vụ tranh chấp (in nghiêng), tên của tài liệu, ngày của tài liệu, mã số tài liệu, đoạn  được trích dẫn hoặc trang trích dẫn (nếu các đoạn không được đánh số). Ví dụ:  

Ukraine – Definitive Safeguard Measures on Certain Passenger Cars, Report of the  Panel, 26/06/2015, WT/DS468/R, đoạn 7.19. 

Ukraine – Definitive Safeguard Measures on Certain Passenger Cars, Request to join  consultations, Communication from the Russian Federation, 19/11/2013, WT/DS468/3, tr. 1. Ukraine – Definitive Safeguard Measures on Certain Passenger Cars, Request for  consultations by Japan, 04/11/2013, WT/DS468/1, tr. 2. 

2.6. Khi tài liệu được trích dẫn nhiều lần: 

Lần thứ nhất tài liệu được trích dẫn, cần trích dẫn đầy đủ như hướng dẫn ở trên. Kể từ lần  trích dẫn thứ hai, để tránh lặp lại, thì có thể áp dụng cách làm như sau: 

– Đối với sách: 

Tên tác giả, sđd, số trang. 

Ví dụ: 

GS.TS. Nguyễn Thị Mơ (chủ biên), sđd, tr. 37. 

– Đối với bài viết: 

Tên tác giả, tlđd, số trang. 

Ví dụ: 

  1. TS. Hoàng Văn Châu, tlđd, tr. 10. 

– Đối với tài liệu của WTO có mã số: 

Tlđd, mã tài liệu, số đoạn/trang. 

Ví dụ: 

Tlđd, WT/DS468/R, para. 7.9. 

– Đối với tác giả có nhiều bài viết được sử dụng, ở phần Danh mục tài liệu tham khảo bổ sung các chữ (1), (2), (3)… sau tên tác giả để khi trích dẫn lặp lại, người đọc biết tài liệu được  lặp lại là tài liệu nào.

Ví dụ: 

Trong danh mục tài liệu tham khảo có ba bài viết của cùng tác giả: 

  • Joost Pauwelyn (1), “A Typology of Multilateral Treaty Obligations: Are WTO  Obligations Bilateral or Collective in Nature?”, The European Journal of International  Law, 2003, vol. 14, no. 5, tr. 907-951. 
  • Joost Pauwelyn (2), “Going Global, Regional, or Both? Dispute Settlement in the  Southern African Development Community (SADC) and Overlaps with the WTO and  other Jurisdictions”, Minnesota Journal of Global Trade, 2004, vol. 13, no. 1, tr. 231- 304. 
  • Joost Pauwelyn (3), “The Limits of Litigations: ‘Americanization’ and Negotiation in  the Settlement of WTO Disputes”, Ohio State Journal on Dispute Resolution, 2003, vol.  19, no. 1, tr. 121-132. 

Khi trích dẫn lặp lại, cách viết footnote như sau: 

Joost Pauwelyn (2), tlđd, tr. 235. → Điều này chỉ dẫn cho người đọc biết là tài liệu thứ 2  trong danh mục tài liệu tham khảo của tác giả Joost Pauwelyn được sử dụng lặp lại.

3. Cách làm Danh mục tài liệu tham khảo 

3.1. Một số lưu ý: 

– Danh mục tài liệu tham khảo được tách riêng ra cho từng loại ngôn ngữ khác nhau: như  tài liệu bằng tiếng Việt, tài liệu bằng tiếng Anh v.v… 

– Có thể chia tài liệu ra từng thể loại khác nhau, như: sách, tạp chí, bài viết trên mạng, các  đường link internet v.v… 

– Các tài liệu giữa các phần này được đánh nối tiếp từ 1 đến hết. 

3.2. Cách làm: 

Về cơ bản, cách làm danh mục tài liệu tham khảo giống với cách làm footnote. Điểm khác  duy nhất là: 

– Đối với sách: 

Footnote: số trang chính xác được trích dẫn → Danh mục: số trang được bỏ đi, thay vào  đó ghi rõ tổng số trang của cuốn sách đó 

Ví dụ: 

  1. TS. Nguyễn Thị Mơ (chủ biên), Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối  ngoại, tái bản lần thứ 5, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2012, 248 tr. – Đối với bài viết trên tạp chí: 

Footnote: số trang chính xác được trích dẫn → Danh mục: số trang bắt đầu và số trang  kết thúc của bài viết đó. 

Ví dụ: 

 

Joost Pauwelyn (a), “A Typology of Multilateral Treaty Obligations: Are WTO  Obligations Bilateral or Collective in Nature?”, The European Journal of International  Law, 2003, vol. 14, no. 5, tr. 907-951. 

Thông tin truy xuất

DOIChưa cấp DOI
Cập nhật04/02/2026
Định dạng trích dẫnAPA · Chicago · Bộ GD&ĐT
Chủ đềBộ công cụ
Quảng cáo
Thông tin tác giả
Vietnam ScholarHub
Vietnam ScholarHub
Vietnam ScholarHub
Tài khoản điểu hành
196Bài viết
0Trích dẫn
0H-index

Bình luận (0)

Vietnam ScholarHub

0 Thảo luận Khoa học

Nếu chưa có tài khoản VSH, bình luận vẫn hiển thị đúng tên bạn nhập. Email và thông tin liên hệ khác không hiển thị ra ngoài.

Markdown: **đậm**, *nghiêng*, `code`
Nội dung sẽ tuân theo quy tắc kiểm duyệt của Vietnam ScholarHub.
Chưa có thảo luận nào Hãy mở đầu bằng một nhận xét, câu hỏi hoặc phản biện có căn cứ.