Chuyên khảo tương tác · Tư tưởng chính trị Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dòng sáng của độc lập, nhân dân và phát triển con người
Không phải một tập hợp khẩu hiệu rời rạc, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống câu trả lời được hình thành trong hành trình tìm đường cứu nước, tổ chức cách mạng, kiến tạo nhà nước và chăm lo cho con người. Đọc hệ tư tưởng ấy là đi từ câu hỏi sống còn của dân tộc đến một triết lý phát triển: độc lập phải đem lại tự do và hạnh phúc; quyền lực phải thuộc về nhân dân; đạo đức, văn hóa và con người phải trở thành nền tảng của tương lai.
Cách đọc một hệ tư tưởng
Không bắt đầu từ việc thuộc lòng, mà từ câu hỏi Hồ Chí Minh đã phải giải quyết
Đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng không chỉ về chủ quyền mà còn về con đường phát triển. Những phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX thể hiện khí phách dân tộc, nhưng chưa tìm được một đường lối đủ sức tập hợp lực lượng, giải quyết đồng thời vấn đề dân tộc, vấn đề xã hội và tổ chức quyền lực sau khi giành độc lập. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Ái Quốc không chỉ tìm một phương thức đánh đuổi thực dân. Người phải trả lời một chuỗi câu hỏi khó hơn: lực lượng nào có thể làm cách mạng; ai lãnh đạo; độc lập sẽ phục vụ ai; nhà nước mới phải được tổ chức thế nào; và làm sao để một dân tộc vừa thoát khỏi thuộc địa không lại rơi vào lệ thuộc hoặc bất công dưới hình thức khác.
Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức nội dung thành những trục lớn: cơ sở và quá trình hình thành; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế; văn hóa, đạo đức, con người.[1] Cách kết cấu ấy cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nhìn như một chỉnh thể. Không thể hiểu quan niệm về nhà nước nếu tách khỏi tư tưởng nhân dân là chủ; không thể hiểu đạo đức nếu tách khỏi yêu cầu kiểm soát quyền lực; cũng không thể hiểu độc lập dân tộc nếu bỏ đi mục tiêu tự do, ấm no, hạnh phúc của con người.
Bốn nguồn hợp lưu
Một tư tưởng Việt Nam được hình thành trong đối thoại với thời đại
Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải phép cộng cơ học của nhiều học thuyết. Đó là quá trình chọn lọc, chuyển hóa và kiểm nghiệm bằng thực tiễn cách mạng Việt Nam. Bốn nguồn dưới đây cùng hội tụ, nhưng không có vai trò giống nhau.
Nền tảng tình cảm và bản lĩnh
Truyền thống yêu nước, nhân nghĩa và ý chí tự chủ
Lòng yêu nước là điểm xuất phát trực tiếp của hành trình cứu nước. Từ lịch sử dựng nước, giữ nước, Hồ Chí Minh kế thừa tinh thần độc lập, đoàn kết cộng đồng, lòng nhân nghĩa, truyền thống trọng dân và khả năng dung hợp văn hóa. Nhưng Người không lý tưởng hóa quá khứ: những giá trị truyền thống chỉ trở thành sức mạnh hiện đại khi được đặt trong một đường lối và tổ chức cách mạng phù hợp.
Trong bốn nguồn hợp lưu, chủ nghĩa Mác – Lênin giữ vai trò quyết định đối với sự chuyển biến về chất trong thế giới quan và phương pháp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Hồ Chí Minh tiếp cận học thuyết ấy không như một hệ công thức đóng kín, mà như công cụ để nhận diện quan hệ giữa áp bức dân tộc, áp bức giai cấp và phong trào giải phóng trong thời đại mới. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, phản ánh quá trình chuyển biến từ người yêu nước đến người cộng sản và sự hình thành đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc.[2]
Cùng lúc, Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực từ tư tưởng và văn hóa phương Đông, phương Tây: tu dưỡng đạo đức, tinh thần nhân ái, tư tưởng tự do, bình đẳng, quyền con người, kinh nghiệm tổ chức nhà nước và đời sống dân chủ. Tiêu chuẩn lựa chọn không phải nguồn gốc Đông hay Tây, cũ hay mới, mà là giá trị thực tế đối với giải phóng dân tộc và nâng cao đời sống nhân dân.
Cuối cùng, không thể tách hệ tư tưởng này khỏi năng lực tự học, tư duy độc lập, khả năng quan sát xã hội và trải nghiệm hoạt động cách mạng của chính Hồ Chí Minh. Người từng sống và hoạt động trong nhiều không gian chính trị, lao động và văn hóa; trực tiếp chứng kiến cả sức mạnh lẫn giới hạn của nhiều mô hình. Nhờ vậy, lý luận được liên tục đối chiếu với thực tiễn, còn thực tiễn được nâng lên thành nhận thức chiến lược.
Hành trình hình thành
Từ lòng yêu nước đến một hệ thống quan điểm về cách mạng Việt Nam
Các giai đoạn dưới đây không phải những ngăn kín. Chúng cho thấy tư tưởng được định hình, thử thách và bổ sung qua từng nhiệm vụ lịch sử.
Trước năm 1911
Hình thành chí hướng cứu nước từ truyền thống dân tộc và hiện thực thuộc địa
Tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành diễn ra trong bối cảnh đất nước mất độc lập, đời sống nhân dân cơ cực và nhiều con đường cứu nước lâm vào bế tắc. Từ quê hương, gia đình, nhà trường và những biến động xã hội, lòng yêu nước phát triển thành câu hỏi về một con đường mới: không lặp lại mô hình cầu viện bên ngoài, không chỉ dựa vào tầng lớp sĩ phu, và không dừng ở cải cách dưới khuôn khổ thuộc địa.
Từ tình cảm yêu nước đến nhu cầu tìm một phương pháp cứu nước mới.1911–1920
Khảo nghiệm thế giới và xác định hướng đi của cách mạng giải phóng dân tộc
Hành trình qua nhiều quốc gia giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra rằng chủ nghĩa thực dân không phải hiện tượng riêng của Việt Nam, còn người lao động ở các chính quốc cũng chịu bất công. Việc tiếp cận Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa mở ra lời giải có tính hệ thống: cách mạng thuộc địa có thể gắn với phong trào cách mạng thế giới, nhưng phải xuất phát từ quyền sống và năng lực tự giải phóng của dân tộc mình.
Từ tìm đường cá nhân đến lựa chọn lập trường và phương pháp cách mạng.1921–1930
Hình thành những luận điểm cơ bản về con đường cách mạng Việt Nam
Trong giai đoạn này, Nguyễn Ái Quốc truyền bá lý luận cách mạng, đào tạo cán bộ, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những vấn đề then chốt được xác lập: cách mạng trước hết phải giải quyết nhiệm vụ dân tộc; phải có Đảng cách mạng; lực lượng là toàn dân, lấy liên minh công nhân – nông dân làm nền tảng; cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới, đồng thời phải chủ động và sáng tạo.
Từ nhận thức con đường đến xây dựng lực lượng và tổ chức lãnh đạo.1930–1945
Kiên định mục tiêu độc lập, phát triển chiến lược đại đoàn kết và khởi nghĩa toàn dân
Tư tưởng về giải phóng dân tộc được kiểm nghiệm trong điều kiện phong trào cách mạng biến động, khủng bố thuộc địa, chiến tranh thế giới và những khác biệt trong nhận thức chiến lược. Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc, xây dựng Mặt trận Việt Minh, tập hợp rộng rãi lực lượng yêu nước, kết hợp chuẩn bị lâu dài với nắm bắt thời cơ. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa tư tưởng từ chương trình đấu tranh thành nền tảng kiến tạo một nhà nước mới.
Độc lập dân tộc trở thành điểm quy tụ cao nhất của sức mạnh toàn dân.1945–1969
Phát triển toàn diện tư tưởng về nhà nước, Đảng cầm quyền, xã hội mới và con người
Sau khi giành chính quyền, bài toán không còn chỉ là giải phóng mà còn là giữ vững nền độc lập, tổ chức nhà nước, kiến thiết kinh tế, xây dựng văn hóa, giáo dục, đạo đức công vụ, tiến hành kháng chiến và từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn này phát triển sâu sắc về quyền làm chủ của nhân dân, Đảng cầm quyền, pháp luật, chống quan liêu – tham nhũng, chiến lược trồng người, đoàn kết quốc tế, hòa bình và hợp tác.
Từ giành quyền lực đến sử dụng quyền lực đúng mục đích và kiểm soát sự tha hóa.Bản đồ hệ thống
Sáu trục tư tưởng liên kết quanh một trung tâm: con người và nhân dân
Chọn từng điểm để thấy các nội dung không đứng riêng lẻ mà nâng đỡ lẫn nhau.
Mục tiêu trước hết
Độc lập dân tộc là quyền sống và quyền tự quyết của cả cộng đồng
Độc lập phải đầy đủ về chính trị, lãnh thổ và quyền lựa chọn con đường phát triển; đồng thời phải tạo điều kiện để nhân dân được tự do và có đời sống xứng đáng. Vì vậy, độc lập không phải đích dừng tách rời khỏi công bằng xã hội và phát triển con người.
Hạt nhân chiến lược
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Đây là trục xuyên suốt giúp nối nhiệm vụ giải phóng dân tộc với việc xây dựng một xã hội mới.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng, trước hết là quyền một dân tộc tự quyết định vận mệnh, chế độ chính trị và con đường phát triển của mình. Độc lập phải là độc lập thật sự, không bị chi phối dưới hình thức quân sự, chính trị, kinh tế hay văn hóa. Nhưng nội dung của độc lập không kết thúc ở việc thay đổi lá cờ hoặc bộ máy cai trị. Nền độc lập phải được đo bằng khả năng bảo vệ chủ quyền và bằng cuộc sống của nhân dân.
Từ đó, Hồ Chí Minh đặt độc lập trong mối quan hệ với tự do và hạnh phúc. Một nhà nước có chủ quyền nhưng người dân chưa được học, chưa thoát đói nghèo, chưa được làm chủ thì mục tiêu giải phóng chưa hoàn thành. Các tài liệu nghiên cứu chính thức về tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh quan hệ biện chứng: độc lập dân tộc là tiền đề của chủ nghĩa xã hội, còn việc xây dựng xã hội mới tạo cơ sở để nền độc lập có nội dung thực chất và bền vững.[3]
Cách mạng giải phóng dân tộc, vì vậy, phải dựa vào lực lượng của toàn dân. Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công nhân và nông dân như nền tảng, đồng thời chủ trương tập hợp trí thức, tiểu thương, tư sản dân tộc, nhân sĩ, đồng bào tôn giáo và mọi người Việt Nam yêu nước. Đây là sự kết hợp giữa nhận thức về lực lượng xã hội với yêu cầu cao nhất của thời kỳ thuộc địa: giải phóng dân tộc.
Tinh thần tự lực, tự cường là một nét nổi bật. Tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ quốc tế là cần thiết, nhưng quyền chủ động phải thuộc về dân tộc Việt Nam. Quan điểm này giúp tránh hai cực đoan: khép kín, biệt lập một mặt; lệ thuộc, trông chờ từ bên ngoài mặt khác. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là cách mở rộng nguồn lực mà vẫn giữ độc lập về đường lối và mục tiêu.
A
Độc lập dân tộc
Giải phóng khỏi ách thống trị; bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm quyền tự quyết; khơi dậy năng lực tự lực của nhân dân.
B
Chủ nghĩa xã hội
Một xã hội do nhân dân làm chủ, kinh tế và khoa học phát triển, đời sống vật chất – tinh thần được nâng cao, quan hệ xã hội hướng tới công bằng và phát triển toàn diện con người.
Hồ Chí Minh diễn đạt chủ nghĩa xã hội bằng ngôn ngữ gần với nhu cầu của người dân hơn là bằng những công thức trừu tượng. Đó là làm cho dân giàu hơn, đất nước mạnh hơn, mọi người có việc làm, được học, được chăm lo đời sống, các dân tộc đoàn kết, xã hội ngày càng tiến bộ. Cách diễn đạt này cho thấy mục tiêu xã hội chủ nghĩa phải được cụ thể hóa thành các kết quả con người có thể cảm nhận trong cuộc sống.
Con đường quá độ ở Việt Nam được nhìn nhận là lâu dài, phức tạp, phải cải tạo cái cũ và xây dựng cái mới trong điều kiện xuất phát điểm thấp. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội không thể dựa vào ý chí chủ quan. Nó đòi hỏi phát triển sản xuất, ứng dụng khoa học – kỹ thuật, tổ chức quản lý tốt, nâng cao trình độ văn hóa, thực hành tiết kiệm và huy động sức dân. Mọi bước đi phải phù hợp điều kiện cụ thể, vừa cải tạo quan hệ xã hội, vừa tạo ra năng lực sản xuất và con người mới.
Độc lập chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi quyền tự quyết của dân tộc được chuyển hóa thành tự do, ấm no và cơ hội phát triển của nhân dân.
Khái quát từ hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Tổ chức quyền lực
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ
Giành được chính quyền mới chỉ là mở đầu. Thách thức lớn hơn là làm sao để quyền lực không xa rời mục tiêu phụng sự nhân dân.
Hồ Chí Minh xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố lãnh đạo quyết định đối với cách mạng. Vai trò ấy không xuất phát từ đặc quyền, mà từ khả năng xây dựng đường lối đúng, tổ chức nhân dân và chịu trách nhiệm trước lợi ích của dân tộc. Đảng phải gắn bó với nhân dân, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, đồng thời vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam.
Khi chưa có chính quyền, nhiệm vụ trọng tâm của Đảng là tổ chức đấu tranh giành độc lập. Khi trở thành Đảng cầm quyền, nguy cơ mới xuất hiện: quyền lực có thể làm nảy sinh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, xa dân, tham ô, lãng phí. Do đó, xây dựng và chỉnh đốn Đảng không phải hoạt động theo đợt mà là quy luật tồn tại. Những nguyên tắc được Hồ Chí Minh nhấn mạnh gồm tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo gắn với cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, kỷ luật nghiêm minh, đoàn kết thống nhất, liên hệ mật thiết với nhân dân.[4]
Quan niệm “Đảng là đạo đức, là văn minh” đặt tiêu chuẩn rất cao đối với tổ chức và mỗi cán bộ, đảng viên. Năng lực lãnh đạo không thể bền vững nếu tách khỏi uy tín đạo đức. Cán bộ phải vừa có năng lực, vừa đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích riêng; lời nói phải được kiểm chứng bằng việc làm; quyền hạn càng lớn thì trách nhiệm nêu gương và tự kiểm soát càng cao.
Chủ thể quyền lực
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Nhân dân có vị trí cao nhất trong cấu trúc quyền lực; các cơ quan nhà nước và cán bộ được ủy quyền để thực hiện công việc chung. Quyền lực công không phải tài sản riêng của người giữ chức vụ.
- Nhân dân là chủ thể của quyền lực.
- Quyền và nghĩa vụ công dân được pháp luật bảo đảm.
- Cán bộ là người nhận ủy quyền, không đứng trên nhân dân.
Tư tưởng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân làm thay đổi căn bản quan hệ giữa nhà nước và người dân. “Của dân” khẳng định chủ quyền nhân dân. “Do dân” nói đến việc nhà nước được nhân dân lựa chọn, xây dựng, đóng góp và kiểm tra. “Vì dân” đặt mục tiêu phục vụ lợi ích, quyền và hạnh phúc của nhân dân. Chuyên trang chính thức về Hồ Chí Minh nhấn mạnh người dân là chủ, còn cơ quan nhà nước và cán bộ là người được ủy quyền thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân.[5]
Hồ Chí Minh đồng thời coi trọng một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, quản lý bằng pháp luật và có kỷ cương. Dân chủ không đồng nghĩa với tùy tiện. Pháp luật phải bảo vệ quyền dân, nhưng người dân cũng có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, tham gia xây dựng và bảo vệ nhà nước. Cán bộ phải tôn trọng pháp luật, bởi nếu người thực thi công quyền đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật thì quyền làm chủ của nhân dân sẽ bị xói mòn.
Chống tham ô, lãng phí, quan liêu vì vậy vừa là yêu cầu kinh tế, vừa là yêu cầu đạo đức và chính trị. Những căn bệnh này làm thất thoát nguồn lực, phá hỏng quan hệ giữa nhà nước với nhân dân và làm suy giảm niềm tin. Hồ Chí Minh đặc biệt cảnh báo rằng người có quyền mà thiếu lương tâm dễ sử dụng công quyền cho lợi ích riêng. Tư tưởng ấy liên kết trực tiếp giữa đạo đức cán bộ, kiểm soát quyền lực và hiệu quả quản trị.
Nguồn sức mạnh
Đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế
Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải biện pháp ứng phó tạm thời, mà là chiến lược tổ chức sức mạnh lâu dài của cách mạng.
Hồ Chí Minh nâng truyền thống đoàn kết của dân tộc thành một chiến lược chính trị có nguyên tắc, lực lượng, hình thức tổ chức và mục tiêu rõ ràng. Lực lượng của khối đại đoàn kết là toàn thể người Việt Nam yêu nước, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tầng lớp, quá khứ hay nơi cư trú. Nền tảng là liên minh công nhân, nông dân và trí thức; phạm vi phải mở rộng đến mọi lực lượng có thể cùng tham gia vào mục tiêu chung.
Đoàn kết rộng rãi không có nghĩa là xóa bỏ mọi khác biệt. Nghệ thuật của đại đoàn kết nằm ở việc tìm mẫu số chung trong lợi ích căn bản của quốc gia – dân tộc, đồng thời tôn trọng những khác biệt không đối lập với mục tiêu chung. Điều đó đòi hỏi khoan dung, chân thành, niềm tin vào khả năng tiến bộ của con người và một phương pháp vận động không áp đặt.
Đại đoàn kết phải trở thành lực lượng có tổ chức. Mặt trận dân tộc thống nhất là hình thức tập hợp rộng rãi, hoạt động trên cơ sở hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động. Đảng vừa lãnh đạo vừa phải là một thành viên có trách nhiệm, thuyết phục bằng đường lối đúng và bằng sự gương mẫu, chứ không chỉ bằng mệnh lệnh. Các nguồn chính thức xem đại đoàn kết là một chiến lược cơ bản, lâu dài và là nguồn sức mạnh quyết định đối với sự nghiệp cách mạng.[6]
Đoàn kết quốc tế mở rộng logic ấy ra ngoài biên giới. Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của phong trào tiến bộ, các dân tộc bị áp bức, lực lượng yêu chuộng hòa bình và nhân dân thế giới. Cơ sở của đoàn kết quốc tế là mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; nguyên tắc là độc lập, tự chủ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.[7]
Nền tảng tinh thần
Văn hóa, đạo đức và con người: chiều sâu nhân văn của một tư tưởng cách mạng
Nếu độc lập và nhà nước trả lời câu hỏi ai làm chủ xã hội, thì văn hóa và đạo đức trả lời câu hỏi con người sẽ sử dụng quyền làm chủ ấy theo hướng nào.
Hồ Chí Minh hiểu văn hóa theo nghĩa rộng, gắn với toàn bộ những sáng tạo vật chất và tinh thần mà con người tạo ra để thích ứng với đời sống và tổ chức xã hội. Văn hóa không đứng ngoài kinh tế, chính trị; nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa thấm vào từng lĩnh vực. Một xã hội mới không thể được xây dựng bền vững bằng thiết chế chính trị và tăng trưởng kinh tế nếu thiếu trình độ dân trí, lối sống, đạo đức và năng lực sáng tạo.
Quan điểm “văn hóa soi đường” thể hiện vai trò định hướng. Văn hóa giúp hình thành lý tưởng, bồi dưỡng lòng yêu nước, nâng cao hiểu biết, điều chỉnh hành vi và tạo sức mạnh tinh thần. Một nền văn hóa mới phải kế thừa giá trị dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, gắn với đời sống nhân dân và phục vụ sự nghiệp độc lập, xây dựng đất nước. Bảo tồn bản sắc vì vậy không phải đóng cửa trước cái mới; tiếp thu cái mới cũng không đồng nghĩa với đánh mất khả năng tự định nghĩa mình.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Mọi chính sách cuối cùng phải hướng tới phát triển con người; đồng thời không có con người có tri thức, đạo đức, sức khỏe, kỷ luật và tinh thần sáng tạo thì mục tiêu xã hội không thể thực hiện. Chuyên trang chính thức về Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự nghiệp “trồng người” mang ý nghĩa chiến lược, còn văn hóa phải xây dựng con người phát triển toàn diện.[8]
vô tư
Lao động có kế hoạch
Cần: siêng năng đi cùng năng suất và tinh thần học hỏi
“Cần” không chỉ là làm nhiều, mà là lao động chăm chỉ, có tổ chức, biết cải tiến và không ngừng học hỏi. Trong quản trị hiện đại, cần còn là trách nhiệm hoàn thành công việc đến nơi đến chốn, tránh hình thức và sử dụng năng lực cá nhân vào lợi ích chung.
Đạo đức Hồ Chí Minh gồm những phẩm chất có quan hệ hữu cơ: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. “Trung” không còn là trung thành với một cá nhân quân chủ, mà là trung thành với Tổ quốc và sự nghiệp của nhân dân. “Hiếu” không giới hạn trong gia đình, mà mở rộng thành trách nhiệm phục vụ dân, tôn trọng dân và chăm lo đời sống nhân dân.
Cần, kiệm, liêm, chính là những khái niệm truyền thống được đặt vào nội dung mới. Cần gắn với lao động hiệu quả; kiệm là tiết kiệm thời gian, sức người, tiền của công chứ không phải hà tiện; liêm là trong sạch, không tham địa vị và của cải bất chính; chính là ngay thẳng, đặt việc công lên trên lợi ích riêng. Các phẩm chất ấy hướng đến chí công vô tư — sử dụng quyền lực và năng lực cá nhân một cách công tâm vì lợi ích chung. Nguồn chính thức nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa bốn phẩm chất và nguy cơ người có quyền mà thiếu lương tâm sẽ lợi dụng công quyền.[9]
Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng phương pháp rèn luyện đạo đức. Thứ nhất, nói phải đi đôi với làm và phải nêu gương. Thứ hai, xây dựng phẩm chất tốt phải đi cùng đấu tranh chống cái xấu. Thứ ba, tu dưỡng phải diễn ra suốt đời trong công việc và quan hệ hằng ngày. Đạo đức không phải danh hiệu đã đạt một lần, mà là năng lực tự kiểm soát trước cám dỗ, quyền lực, danh lợi và sự dễ dãi với chính mình.
Chính vì vậy, đạo đức không đối lập với năng lực chuyên môn. Người có đạo đức mà thiếu năng lực có thể không hoàn thành trách nhiệm; người có năng lực nhưng thiếu đạo đức có thể gây tổn hại lớn hơn. Tư tưởng Hồ Chí Minh hướng tới sự thống nhất giữa đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng định hướng việc sử dụng tài năng.
Phương pháp và phong cách
Giá trị không chỉ nằm ở kết luận, mà còn ở cách tư duy và hành động
Xuất phát từ thực tiễn
Lý luận phải giải thích và hướng dẫn hành động; chủ trương phải được kiểm nghiệm bằng kết quả đối với nhân dân. Không lấy mong muốn chủ quan thay cho điều kiện thực tế.
Độc lập, tự chủ, sáng tạo
Học kinh nghiệm quốc tế nhưng không sao chép; vận dụng nguyên lý chung vào đặc điểm dân tộc, trình độ phát triển và tương quan lực lượng cụ thể.
Nhìn toàn diện và có trọng điểm
Kết nối chính trị với kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức; đồng thời xác định nhiệm vụ trung tâm và khâu đột phá trong từng giai đoạn.
Lấy dân làm thước đo
Điều tra, lắng nghe, giải thích, tổ chức và cùng nhân dân thực hiện. Hiệu quả của chính sách phải được đánh giá từ lợi ích, sự tham gia và niềm tin của người dân.
Nói ngắn, rõ và đúng đối tượng
Phong cách diễn đạt chú trọng sự trong sáng, cụ thể, dễ hiểu nhưng không đơn giản hóa nội dung. Truyền thông hiệu quả bắt đầu từ hiểu người nghe.
Nêu gương và nhất quán
Uy tín không chỉ đến từ chức vụ hay lời nói, mà từ sự thống nhất giữa giá trị tuyên bố, quyết định công việc và lối sống hằng ngày.
Giá trị hiện nay
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong một thế giới rất khác
Vận dụng sáng tạo không phải lặp lại nguyên xi những giải pháp của quá khứ, mà giữ vững giá trị cốt lõi và tìm hình thức phù hợp với điều kiện mới.
01 · Tự chủ trong hội nhập
Độc lập hôm nay còn là năng lực tự quyết về tri thức, công nghệ và mô hình phát triển
Chủ quyền lãnh thổ vẫn là nền tảng, nhưng tự chủ quốc gia ngày càng phụ thuộc vào năng lực khoa học, dữ liệu, công nghệ lõi, an ninh kinh tế, khả năng chống chịu và chất lượng nguồn nhân lực. Tinh thần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đòi hỏi hội nhập sâu nhưng không phụ thuộc thụ động.
02 · Quản trị vì dân
Chuyển đổi số phải làm quyền của người dân dễ thực hiện hơn
Nhà nước số không chỉ là số hóa thủ tục. Giá trị “của dân, do dân, vì dân” đòi hỏi dịch vụ công dễ tiếp cận, dữ liệu được bảo vệ, quyết định có thể giải trình và người dân có kênh tham gia, giám sát hiệu quả.
03 · Đạo đức công vụ
Công nghệ không thay thế được liêm chính và trách nhiệm
Quy trình tự động có thể giảm tiếp xúc và sai sót, nhưng không tự loại bỏ lợi ích nhóm hoặc sự vô cảm. Cần, kiệm, liêm, chính vẫn là yêu cầu trực tiếp đối với việc sử dụng ngân sách, dữ liệu và quyền lực công.
04 · Đại đoàn kết
Xây dựng đồng thuận trong một xã hội đa dạng và phân mảnh thông tin
Đoàn kết hiện đại cần chính sách công bằng, đối thoại chân thành, khả năng xử lý khác biệt và không gian để các nhóm xã hội cùng tham gia. Không thể tạo đồng thuận bền vững chỉ bằng truyền thông một chiều.
05 · Văn hóa và con người
Phát triển nhanh phải đi cùng năng lực văn hóa và phẩm chất công dân
Nguồn nhân lực không chỉ là kỹ năng nghề nghiệp. Tư duy độc lập, tinh thần trách nhiệm, sức khỏe, đạo đức, năng lực hợp tác và bản lĩnh văn hóa quyết định chất lượng phát triển lâu dài.
06 · Khoa học và giáo dục
“Trồng người” trong kỷ nguyên AI là dạy khả năng học suốt đời
Khi tri thức và nghề nghiệp thay đổi nhanh, giáo dục phải giúp con người biết đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin, sáng tạo, sử dụng công nghệ có trách nhiệm và duy trì mục tiêu phụng sự cộng đồng.
Kết luận
Từ khát vọng giải phóng đến một triết lý phát triển đặt con người ở trung tâm
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trong cuộc đấu tranh giành độc lập nhưng không dừng ở bài toán chiến tranh hay giành chính quyền. Nó phát triển thành một hệ thống quan điểm về mục tiêu và động lực của cách mạng, về tổ chức Đảng, nhà nước, pháp luật, đoàn kết, văn hóa, đạo đức và con người. Hạt nhân của hệ thống ấy là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và cuộc sống tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Độc lập tạo điều kiện để dân tộc tự quyết; chủ nghĩa xã hội cung cấp định hướng để thành quả độc lập thuộc về số đông; Đảng và Nhà nước tổ chức sức mạnh xã hội; đại đoàn kết mở rộng lực lượng; văn hóa và đạo đức giữ cho quyền lực không xa rời con người; giáo dục và “trồng người” chuẩn bị năng lực cho tương lai. Mỗi thành tố chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi nằm trong mối quan hệ với các thành tố còn lại.
Giá trị lâu dài nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh có lẽ nằm ở yêu cầu rất thực tế: mọi lý tưởng lớn phải được chuyển hóa thành năng lực hành động, thành tổ chức tốt, thành cán bộ có trách nhiệm và thành những thay đổi cụ thể trong đời sống nhân dân. Một tư tưởng sống không chỉ được nhắc lại; nó phải tiếp tục giúp xã hội đặt đúng câu hỏi và tìm ra lời giải phù hợp với thời đại.
Tài liệu kiểm chứng
Nguồn chính thống trong nước
Bài viết ưu tiên giáo trình chính thức, Hồ Chí Minh Toàn tập và các chuyên trang của cơ quan Đảng, Nhà nước; không sử dụng nguồn nước ngoài hoặc trang tổng hợp không rõ thẩm quyền.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh – dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2024.
- Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, xuất bản lần thứ ba.
- Cổng Tư liệu – Văn kiện Đảng, Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Cổng Tư liệu – Văn kiện Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền.
- Chuyên trang Hồ Chí Minh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân.
- Chuyên trang Hồ Chí Minh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
- Chuyên trang Hồ Chí Minh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế.
- Chuyên trang Hồ Chí Minh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng con người mới.
- Chuyên trang Hồ Chí Minh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.
Bài viết là nội dung phổ biến khoa học – giáo dục, không thay thế giáo trình hoặc văn bản gốc. Khi sử dụng cho nghiên cứu học thuật, cần tra cứu trực tiếp Hồ Chí Minh Toàn tập, giáo trình và văn kiện theo đúng ấn bản, tập và trang.
